Sunday, March 30, 2008

Giải Khăn Sô Cho Huế Chương 1 đến Chương 5








Không biết tiếng súng đầu tiên nổ vào giờ khắc nào? Giữa đêm, tôi đã choàng tỉnh dậy vì tiếng nổ xé toạc cả những giấc mơ vụn.

Vừa kịp lăn xuống khỏi tấm phản gỗ, tai tôi đã ù đi vì những tiếng nổ ran bốn phía. Chuyện gì vậy? Không biết làm thế nào mà tôi lăn tròn từ phòng ngoài vào phòng trong. Bàn tay ai kéo tôi giúi vào giữa phòng. Tôi nằm đè lên da thịt ai non mát. Một tiếng kêu nhỏ tắc nghẽn vào âm thanh hỗn độn của súng đạn bên ngoài. Khi tôi kịp định tỉnh lại tâm thần thì đứa cháu nhỏ đã ngồi lên được, nằm gọn gàng trong lòng tôi. "Còn đứa mô nữa? Vô hết đi. Vô một chỗ.” Tiếng má tôi thì thào. Que diêm tắt phụt nhưng có ánh nến le lói từ phòng ngoài hắt vào. Ðứa em trai tôi trườn theo làn ánh sáng mỏng đó, nó ngồi áp vào bên má tôi. “Làm ơn tắt giùm ngọn nến ngoài bàn thờ đi, tắt luôn cả lư trầm nữa.” Ông anh lớn của tôi vội vã làm theo lời má tôi, rồi nhảy đại rất nhanh vào ngồi dồn cùng một đống. Lúc này tôi mới cảm thấy ngột ngạt đến muốn tắt thở vì hơi người, vì mùi trầm hương và mùi nến khét.

Căn phòng quá chật, lại bị cái giường chiếm mất một nửa. Anh tôi phải lăn xuống gầm giường. Người này nằm gác lên người kia. Cái bô để dưới chân giường, thỉnh thoảng bị va chạm, vang những âm thanh rổn rảng càng khua động thêm nỗi sợ hãi của mọi người.

Nằm im được một lát, hoàn hồn lại, mọi người bắt đầu nghe ngóng. Tôi dán tai xuống nền gạch. Ðứa cháu gái đã lăn xuống nằm cạnh tôi, hai tay nó ôm đầu, hai chân nó lọt vào hai chân tôi. Tôi hỏi nhỏ:

"Tina nằm có chật không?"

"Không, cô ơi. Tina sợ quá."

"Ðừng có khóc.”

Tôi vỗ về đứa cháu. Nhưng cùng lúc đó những tiếng nổ ình ình lại dội thốc lên. Ðứa cháu bỏ tay, ôm chặt lấy tôi, người nó run cầm cập. Trời ơi, súng bắn cả sau vườn mình. Tôi nghe tiếng súng đằng sau vườn thật trong, thật buốt. Thằng em ghé vào tai tôi:

"AK. Thôi, tụi nó về rồi."

Tôi kéo nó:

"Mày nằm xuống đi."
"Không can chi mô chị. Ðể em ngồi."

Cánh cửa sổ bỗng bị bật ra và cứ thế, hai cánh cửa cứ dội mở ra, đóng ập vào theo những tiếng nổ lớn. Tiếng đạn ở sau vườn bắn thật rát. Má tôi thì thầm:

"Ðánh tới đồn vận tải."

"Không, đồn trường bia."

"Không, đánh cùng khắp. Con nghe phía vận tải, phía trường bia, phía ruộng, phía sau đường rầy."

"Suỵt, im đi cho với. Trời ơi. Trời ơi. Trời ơi."

Tiếng trời ơi đất hỡi bỗng nằm ngay trên chót lưỡi. Bầu trời xoẹt lửa sáng trưng, đất rung chuyển như địa chấn. Lên cơn rồi. Tôi cũng không thể nằm yên để nghe tiếng dội tức cả ngực được. Tôi muốn ngồi nhổm dậy để nghe ngóng, nhưng chỗ nằm chật không nhúc nhích được. Ðứa em họ lúc này cũng chen được một chỗ, hai chân nó chuồi dưới giường, đầu nó thò ra khỏi một nửa cửa phòng. Nó lại bật diêm, lại có tiếng la nhỏ: con khỉ, tắt diêm đi. Ngọn diêm tắt phụt. Nhưng trong bóng tối, lúc này tôi tưởng tượng ra được rồi. Tôi đồng điệu run với mạ tôi, anh tôi, em gái tôi. Tôi đồng điệu co quắp, cố đè nén sự run rẩy, cố ưỡn tung lên để tiếng nổ bớt dội ngực. Ðứa em họ tôi nghe ngóng một hồi rồi ngồi dậy, nó bò ra gian nhà ngoài, chúng tôi nín thở chờ đợi. Chỉ một lát sau, nó bò vào nói rỉ tai từng người:

"Nó ở đầy sân vườn nhà mình."

"Suỵt."

Lại nhiều tiếng suỵt lọt ra khỏi cửa miệng như một hơi huýt gió nhỏ.

Anh tôi giọng hơi gay gắt:

"Nó bắn như pháo ở bên ngoài, vài tiếng động nhỏ làm sao nghe được."

Rồi anh tiếp:

"Quái gì, nó về đánh đồn trường bia rồi. Lần trước cũng đánh suốt một đêm, sáng ra là rút hết."

Tôi mừng thầm. Chúng tôi chịu đựng có lẽ đến hai tiếng đồng hồ rồi. Tôi cố đưa cổ tay lên để nhìn mặt chiếc đồng hồ, nhưng rủi cho tôi, tôi mang đồng hồ không có kim dạ quang. Và ngoài tôi ra chẳng có ai kịp thì giờ mang đồng hồ hết. Dù sao chúng tôi cũng hy vọng mong cho trời sáng. Ông anh tôi không biết sao bỗng trở chứng kêu đau bụng bất thình lình. Vậy là chiếc bô lại có dịp được dùng tới. Chúng tôi đau khổ vì lát lát mấy đứa nhỏ đòi đi tiêu, đi tiểu. Lát lát anh tôi lại kêu đau bụng, mà cái bô thì quá nhỏ. Mọi người vừa nằm vừa run, vừa cố giữ cho chân tay khỏi lóng ngóng. Tôi cố nghĩ đến một cái gì để dằn cơn sợ hãi, nhưng không, tôi không nghĩ gì được hết. Ðầu óc tôi vang dội tiếng súng. Tay chân tôi cứ lật bật run rẩy bất chấp cả sự tự chủ vượt bực của tôi. Có nhiều lúc ngay cả chân tay, thân thể mình cũng không nghe lời mình nữa.

Nhưng rồi nhờ sự chịu đựng quen dần, tôi bình tĩnh lại được và cơn run rẩy biến mất. Hình như chúng tôi đã chịu đựng một thời gian khá dài và bình minh sắp đến. Tôi nghe tiếng rục rịch trong chuồng gà ở đàng sau tấm vách tường lọt vào nhờ hai cánh cửa sổ đã bật tung cùng với tiếng súng đạn hỗn loạn. Thái, tên đứa em họ tôi, đã bình tĩnh ngồi dựa vào tường, và phì phà trên môi điếu thuốc lá lúc nào. Tôi lần tay, nắm chặt tay nó:

"Thái, liệu có yên được không?"

"Em làm răng biết được, cái nớ thì chịu..."

Tôi lại hỏi anh tôi, lúc đó đã nằm trên giường vì không chịu nổi sự chen lấn dưới đất:

"Anh, sáng mai chắc yên há anh?”

"Làm răng biết được, anh cũng chịu."

Tôi đâm ra thất vọng ngang. Những ánh lửa xẹt ngang dọc phía ngoài cửa sổ không còn nữa, nhưng hai cánh cửa vẫn còn bị dội bật ra bật vào vì những tiếng nổ lớn. Súng to, súng nhỏ đang nổ ran từ mặt quốc lộ, từ miệt chùa, từ phía sau đường rầy. Căn nhà của chúng tôi nằm đơn lẻ, chịu đựng bốn mặt đang đánh nhau. Quốc lộ và bờ ruộng ở ngay trước mặt, đường rầy xe lửa ở đàng sau lưng. Hai phía hai bên, một xéo với đồn trường bia, một xéo với đồn vận tải An Cựu.

Không thể nằm yên để chờ tới sáng, tôi lại khơi chuyện:

"Sáng ngày yên chắc ra đường dễ sợ lắm!"

Thái phà thuốc trúng ngay vào mặt tôi:

"Buồn quá, lúc này có súng đỡ sợ hơn nhiều. Biết vậy tối qua em lên đơn vị."

"Không biết tới sáng đã yên được chưa?”

Tôi hỏi hoài một câu như người ngớ ngẩn: Biết đâu. Mà yên chứ. Sáng ra mà súng đạn không ngừng thì chết hết.

"Trời ơi, đừng nói, tụi nó trong vườn."

Ðứa em gái của tôi cười nhỏ:

"Má sợ chi mà sợ dữ rứa. Chị Vân, sáng ra chị với em đi thăm trận đánh nghe. Coi chừng về Sài Gòn viết một phóng sự chiến trường đầu năm đầy gay cấn."

"Giỡn chi mà giỡn vô hậu tế đợi rứa. Mấy chuyện đó đừng có ham.”

Má tôi cằn nhằn. Nhưng chúng tôi đã bớt dần cơn sợ hãi, bắt đầu nói chuyện được, mà câu chuyện cũng bớt ngớ ngẩn. Lúc này tiếng súng ở trong vườn đã dịu dần, nhưng xung quanh thì vẫn còn nổ ran. Tôi nằm mà mắt không rời khỏi cánh cửa sổ phía trên đầu đứa em gái. Tôi nằm chờ, cho tới khi bầu trời tối mịt bên ngoài kia bị hút bớt màu đen đặc.

Lúc này tôi cần sự bình tĩnh, cần sức mạnh. Tôi mong cho trời sáng thì trời đã gần sáng rồi. Mấy chiếc lá cây phất phơ bên ngoài cửa sổ đã hiện lờ mờ, rồi rõ dần. Mấy đứa cháu tôi kêu khát nước. Chúng tôi chờ đợi cho tiếng súng bớt ồ ạt, Thái mới đi ra ngoài rót một ly nước cho hai đứa nhỏ. Tiếng súng đã có vẻ thưa hơn, bức màn đêm đã bớt mắc kẹt đạn. Anh tôi hy vọng hơn ai hết:

"Thái, coi yên súng đem xe Honda ra ngoài, anh muốn lên Từ Ðàm. Chắc chị và mấy đứa nhỏ sợ ghê lắm."

Gia đình tôi lúc này đang chia làm hai. Chị dâu tôi và mấy đứa nhỏ còn ở nhà trên đầu dốc Bến Ngự. Nên anh tôi là người lo lắng nhất. Nhưng chắc không sao. Moị người tự an ủi. Ðến sáng là yên, vậy sáng rồi. Môi má tôi đã bớt tím, tay chân bà cũng bớt run rẩy. Nhưng nỗi vui mừng của chúng tôi không được lâu. Ðúng lúc tôi nghe tiếng gà gáy nơi chuồng gà thì tiếng súng đã bắt đầu nổ lại. Rồi có tiếng đấm cửa rầm rầm, cùng nhiều tiếng chân chạy ở ngoài sân:

"Mở cửa, mở cửa."

Thôi chết rồi. Chúng nó đã tới. Chúng nó sắp tràn vào nhà. Má tôi mặt tái xanh, định chạy tới tắt ngọn đèn vừa mới thắp. Tiếng đại bác dưới Phú Bài bắn lên ầm ầm. Tiếng súng nhỏ nổ chát chúa. Cánh cửa muốn bật tung vì những tiếng đập. Thái bò ra giữa nhà.

"Suỵt, để con."

Rồi hắn chạy ra mở toang cửa. Có nhiều tiếng quen thuộc la hét bên ngoài. Cánh cửa vừa mở tung ra, thì cả nhà đầy người. Chú tôi ở phía dưới đường rầy, sát chân núi Tam Thái, cùng gia đình con dâu với những gia đình hàng xóm khác chạy túa vào. Trẻ con người lớn chen chúc chật cả một gian nhà giữa rộng rãi. Mấy đứa nhỏ hoảng sợ quá, ngã vật ra giữa nhà, có đứa vừa run vừa đái ra quần. Chú tôi vừa khóc vừa kể:

"Sập hết rồi chị ơi. Trên đó bị mọt-chê câu, nhà mụ Nghệ bên cạnh đó mất nửa cái nhà."

Bé, đứa con trai lớn của chú tôi ôm một lúc hai đứa con nhỏ, vừa thở vừa nói không ra hơi:

"Tụi nó đông lắm. Trên con đầy nhà rồi bác."

Tôi tò mò:

"Làm sao em chạy xuống được?"

"Dân họ chạy xuống dưới này hết. Trên đó mọt-chê câu sập hết nhà cửa. Chạy giữa đường em thấy Việt cộng tụm năm tụm ba, nó ngồi cả trước sân nhà người ta."

Chú tôi chợt nhìn quanh rồi hốt hoảng:

"Con Hồng đâu rồi, con Hồng bế thằng Ðiện chạy phía nào rồi. Thôi chết con tôi cháu tôi...”

Chú tôi chưa kịp dứt câu thì đã ngã phịch xuống vì một quả B-40 phạt xuống mái ngói. Tôi đang há hốc mồm thì gạch vụn đã đầy một miệng.

Cái bô để dưới chân giường không biết bị ai đá vào tràn ra nhà. Tôi vừa sát người xuống thì đã phát nôn vì một mùi thúi hoắc xông lên tận đầu, nhưng không còn cách cựa quậy gì nữa. Nhiều đứa trẻ không chịu đựng nổi ré khóc vang nhà. Nhưng tiếng khóc bị chận ngay vì những bàn tay đã bịt miệng, hoặc những tràng súng cắt đứt. Trời ơi, đến sáng rồi sao không yên? Tôi quay quắt hỏi đứa em:

"Lần trước có lâu như vầy không?"

"Không, lần trước bắn ít hơn, không có đại bác câu nhiều như thế này. Sáng ra là nó rút đi hết."

Bé bò lại phía tôi:

"Trời, chị không tưởng nổi mô. Em thấy tụi nó máu me cùng mình. Tụi nó ngồi bên vườn thím Quyệt, em chạy xuống đây em thấy."

"Thấy mày chạy họ để yên à?"

"Tụi họ cũng vừa chạy vừa bắn, mình cũng chạy đại. Ở trên đó chắc chết quá chị ơi."

Nó vừa nói vừa ôm chặt đứa con gái trong lòng. Vợ nó khóc thảm thiết:

"Anh coi đi tìm con Hồng với thằng cu Ðiện, không tui chạy ra cho súng bắn cái đùng cho rồi."

Má tôi gắt:

"Chết đến nơi không lo, ai mượn tụi bây không chạy với nhau."

"Làm răng chạy với nhau được, mạnh ai nấy chạy, tưởng còn sống đến chừ mô."

Hai vợ chồng nó nín im, nhưng chỉ một giây sau, tôi lại nghe chúng càu nhàu cãi cọ. Một lát sau tiếng súng lại thưa dần. Bé vội chạy ra sân rồi mò dần ra đường. Chừng hai mươi phút sau nó trở lại, một tay bế thằng con.

"Chị...”

Bé hạ giọng, tiếp:

“Em đi tìm con Hồng với thằng Cu, em phải đi bằng ngả sau vườn. Ngang đường rầy em gặp tụi nó, nó hỏi em đi mô rồi bắt giữ em lại. Chúng nó có ba đứa, một đứa bị thương. Em năn nỉ nói đi tìm con lạc, ban đầu nhất định nó không cho, nó hỏi em làm nghề gì. Em nói thợ mộc, em bị lạc con. Về sau nó cho đi. Em tính nếu nó bắt, em liều chết giựt súng. Một thằng bị thương gần chết, một thằng bị thương nhẹ không cầm súng được, còn thằng kia ốm yếu hơn em..."

Hà, em gái tôi, nạt:

“Thôi, mi đừng có ba hoa, nói phách tấu...”

“Em nói thiệt, người ta quân đội mà...”

Rồi nó sực nhớ lại đồn trại và đồng đội, nó ngồi buồn hiu. Lát sau thở dài:

“Lính tráng mà ngồi một xó như ri có nhục không?”

Những người xóm trên vào nhà tôi bây giờ mới hoàn hồn lại. Người vạch vú cho con bú, người bắt đầu kháo chuyện. Mỗi người kể một chuyện đại để cũng thấy Việt cộng ra sao. Họ kể họ cũng chạy suýt chết, cũng thấy viên đạn nó to và đỏ rực như đâm vào mặt mà không biết sao lại không trúng.

Bỗng nhiên vào lúc 8 giờ sáng, tiếng súng như dồn về miệt Phú Cam. Tiếng đại bác dưới Phú Bài không câu lên nữa. Lúc đó chúng tôi mới lần ra sân. Vườn cây yên tĩnh không một bóng người, nhưng trên cỏ, trên đất, còn lấm tấm những vạt máu khô đặc.

Một vài nhánh cây gãy, nơi bờ tre cuối đường ngả ăn thông ra mặt đường rầy, những cành khô được banh ra, chừa những lối đi gọn. Mấy chị em chúng tôi hết sức sung sướng hít thở, ai cũng mừng thầm như thế này là đã yên. Anh tôi chuẩn bị để lên nhà ở Từ Ðàm. Tôi ra cái bể cạn trước sân múc nước súc miệng, đánh răng. Những người trú ngụ trong nhà tôi vội vã bồng bế nhau trở về xóm. Chú tôi là người chạy băng ra khỏi nhà trước tiên. Ông quá lo lắng không biết nhà cửa còn hay đã mất. Tôi cố nhón gót nhìn lên miệt núi, cũng không thấy được gì. Thái, em tôi, hỏi:

“Chị nhìn chi rứa?”

Tôi thở ra:

“Chắc đêm qua trên núi mồ mả bị chân đạp lung tung, mộ bác mới chôn.”

Mồ mả mới chôn đây là mộ của ba tôi. Từ Sài Gòn, những ngày cuối năm vợ chồng con cái tôi đang chuẩn bị đầu năm về ăn Tết ở Huế thì tin ba tôi hấp hối. Leo lên một chiếc máy bay quân sự chở thực phẩm cho lính ở tiền đồn, tôi về tới vừa kịp những giờ cuối cùng của người cha.

Thái cúi đầu. Nó đi tới bể cạn múc nước. Tiếng má tôi kêu:

“Thái, con đem cái này đổ ra sau vườn.”

Anh Lễ tôi đã mặc quần áo xong. Chiếc Honda đã được dựng sẵn. Tôi nói:

“Cho em lên Từ Ðàm với.”

Anh Lễ bảo:

“Ðể coi sao đã. Thấy không yên rồi, ngoài đường vắng tanh vắng ngắt.”

Nhưng lời anh tôi nói chưa dứt thì có nhiều tiếng động ì ầm của xe chạy vào thành phố ngả quốc lộ. Chúng tôi đứng ở sân nhìn ra. Một đoàn xe cam nhông chở lính Mỹ và những khẩu đại bác đang từ từ đỗ lại ngoài đường nối hàng dài. Lính Mỹ nhảy xuống, Thái bật la to:

“Bác ơi, yên rồi, quân Mỹ đã lên. Mình ra đường, mình coi được rồi.”

Má tôi kêu:

“Vào nhà hết, vào nhà không nó bắn.”

Anh tôi cản:

“Ðứa nào ở đâu cứ ở đó. Ðứng yên đừng có chạy mà nó tưởng Việt cộng chết hết cả giờ.”

Ðoàn lính Mỹ đã xuống xe, tiến vào các khu vườn, nằm bò xuống vệ đường, lủi xuống phía ruộng. Chỉ một phút sau vườn nhà tôi đã đầy lính Mỹ.

Một vài người lính Mỹ nhìn chúng tôi dò chừng rồi lủi ra phía vườn gườm súng chĩa vào các bụi cây trước khi băng qua vườn khác. Không có gì xảy ra hết. Tình hình hoàn toàn yên tĩnh. Chúng tôi đi vào nhà ngồi yên ở tấm ngựa gỗ. Ra đường lúc này nguy hiểm. Ai cũng nghĩ thế. Có lẽ lính Mỹ đang đi lùng Việt cộng đây. Chúng tôi im lặng ngồi nhìn nhau, hồi hộp chờ đợi. Hai người lính Mỹ đi ngang qua sân, hờm súng vào trong nhà. Chúng tôi cố giữ vẻ mặt thật thản nhiên. Má tôi còn có vẻ cố gắng làm ra vui mừng nữa. Hai người lính Mỹ dừng lại, rồi đưa mắt cho nhau, đi vào bậc thềm, hất hàm ra hiệu cho chúng tôi ra đứng ở cửa hết. Một người lính Mỹ nói hai tiếng gì đó không phải tiếng Mỹ.

Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, người lính Mỹ lộ vẻ tức giận, nạt lớn:

“Kên cượt.”
Anh tôi hỏi một câu tiếng Anh, nhưng người Mỹ vẫn la:

“Kên cượt.”

Má tôi là người hiểu ra đầu tiên, bà nói lớn:

“Ông Mỹ hỏi thẻ căn cước.”

Người lính Mỹ gật đầu. Người đi cùng chỉ súng thẳng vào người chúng tôi. Chúng tôi trình thẻ căn cước. Khi tôi đưa tấm thẻ của cơ quan VOF (Voice of Freedom) thì người lính Mỹ gật đầu và khuyên chúng tôi trong lúc này nên ở yên trong nhà. Trả thẻ lại, một người trọ trẹ nói tiếng Việt cám ơn, rồi đi ra phía vườn. Chúng tôi chưa kịp ngồi xuống tấm ngựa gỗ đã nghe mấy tiếng nổ lớn. Thái quen với súng đạn, kêu lên:

“Thôi, B-40 của Việt cộng rồi.”

Tiếng B-40 từ phía núi, từ phía đường rầy bắn ra như mưa. Phía ngoài đường, những xe thiết giáp mang súng cối 40 ly bắn trả lại kịch liệt. Từng mảnh ngói bị sức ép, hoặc trúng sướt lằn đạn rơi tứ tung lên đầu lên cổ. Cả nhà lại chui vào phòng trong. Cùng lúc đó những tiếng la khác nổi lên như ri ở miệt ngoài đường. Cái gì vậy? Thái muốn chạy ra trước tiên. Má tôi nắm áo giữ riệt nó lại, nhưng Thái cứ van nài mãi. Cuối cùng hắn ló ra cửa, thụt lui thụt tới vì những tiếng súng bắn đi trả lại cứ vèo vèo ngang qua mái nhà. Ầm. Ầm. Vài thân cây lớn ở ngoài vườn đổ xuống. Chúng tôi ai nấy nằm sát xuống đất, buông trôi cho sự may rủi. Lần này chắc chết quá. Cầu nguyện đi. Tiếng la khóc ở vườn bên, ở trước mặt càng lúc càng thảm thiết. Rồi tiếng kêu chết kêu cháy vang lên.

Mấy người lính Mỹ đang núp ở vườn sau vội chạy ra đường phía có tiếng kêu khóc. Lúc này đạn bắn đi cứ như mưa, tiếng B-40 yếu dần rồi tắt luôn. Tiếng kêu khóc đã nghe rõ mồn một. Chúng tôi không ai bảo ai cùng một lượt chạy ra sân. Căn vườn mé mặt trước, đang có căn nhà bốc cháy và lính Mỹ đang cố dập tắt lửa. Lúc này tôi mới hoàn hồn lại chút ít. Má tôi lo sợ không biết lửa có lan sang căn nhà thờ của chúng tôi không. Bà hét gọi mấy đứa cháu lo gói đồ lại, có gì còn mang ra được chút của cải. Trong tiếng lửa nổ lốp đốp, trong âm thanh ồn ào của những tràng tiểu liên bắn ran khắp các miệt vườn, tiếng khóc nổi lên thảm thiết: Dì ơi, dượng ơi, má tui chết rồi. Ai cứu cho với. Tiếng kêu, tiếng khóc, tiếng chân hàng xóm chạy thình thịch bất chấp cả súng đạn. Má tôi lùa chúng tôi vào nhà. Thái được cử sang chữa lửa. Mấy người lính Mỹ đi vòng lại, qua sân nhà, nhìn vào. Người Mỹ soát giấy chúng tôi lúc nãy đưa mấy ngón tay và nói một câu tiếng Việt bập bẹ đại ý báo cho biết ngoài đó có mấy người chết.

Xong rồi họ ra xe, đoàn xe rồ máy chạy vào thành phố, nhưng chỉ mấy phút sau, có lẽ xe chưa kịp qua khoảng cầu An Cựu, thì chúng tôi nghe miệt cầu đủ thứ súng nổ dữ dội. Một lát, đoàn xe Mỹ ầm ầm rút lui, không còn kiêng nể gì nữa, cứ bắn như mưa dọc hai bên đường. Nhưng lần này, xe trở về rất ít, hình như chỉ có đoàn xe đi sau. Có lẽ những chiếc xe này về chở thêm súng đạn, và đoàn xe đi trước đã lọt ổ phục kích.

Tiếng súng ở mạn cầu đã thưa thớt dần.

Chừng mười lăm phút sau, khi nhìn ra đường, chúng tôi thấy có một đoàn người mặc quần áo màu vàng, vai vác súng đi đầu trần. Tôi lật đật ra sân: Thôi đúng rồi, họ rút đi, và lính mình về. Tôi mừng rỡ như điên định đưa tay vẫy thì chợt nhận ra nơi hông họ đeo cái bị rết. Lính quốc gia thì mang ba lô chứ. Tôi sững lại. Ðoàn người cũng không đông lắm, chỉ chừng vài chục người.

Thái lúc này mới thấy sợ hãi:

“Thôi chết em rồi. Họ vào biết em là cán bộ xây dựng nông thôn thì không cách gì sống nổi.”

Tôi bảo nó đưa giấy tờ cho tôi giữ. Tôi cẩn thận bỏ giấy tờ của nó trong cái túi áo rồi xếp gọn đặt giữa mớ quần áo đang gói ngổn ngang trong một tấm drap lớn. Anh tôi cố tin tưởng:

“Anh nhà giáo chắc không can chi. Nếu họ hỏi em, em nói em là học sinh nghe.”

Thái dạ nhưng nghe chừng yếu xìu. Gia đình Bé lại lật đật dọn xuống. Mấy bao bố đựng gạo, áo quần, mấy cái soong. Chú tôi không đi, má tôi kêu trời kêu đất, nhưng tụi em tôi bảo chú ở lại giữ nhà. Trên đó đã có cái hầm cũ làm sau vụ pháo kích lần trước. Má tôi không tin tưởng vào cái hầm đó lắm. Bà bắt Bé đi gọi ông xuống nhà, nhưng Bé vừa đi một lát, đã hớt ha hớt hải quay lại:

“Bác ui, họ về đông như kiến. Họ đang họp ngoài nghẹo, họ treo cờ, họ hô hào. Họ lấy hết Huế rồi. Người ta bảo bên Phú Văn Lâu treo cái cờ gì to thục lúc. Con vừa tới thấy họ đang bắc loa gọi, con lủi nhanh vào vườn Bác Ái lủi về, may mà họ không thấy.”

Tôi hỏi có ai bị thương không, Bé nói là thấy họ đông lắm, sáng thấy có người bị thương, chừ đem đâu hết rồi. Má tôi nói liệu có di tản lên Từ Ðàm được không thì Bé cho biết là đường sá họ gác hết rồi, góc nào cũng có người đứng gác. Tôi hỏi đi hỏi lại là mày có thấy tận mắt không, nó bực mình: “Thì thấy mới chạy thục mạng về đây. Ðồn vận tải thấy vắng teo như không có người ở, tường thành gì cũng đổ nát hết...”

Lúc đó khoảng mười một giờ. Chúng tôi hết đứng lại ngồi, lóng ngóng nhìn ra đường. Lát lát má tôi sai một đứa cháu ra nhìn xem có ai đi lại không. Nhưng đường xá vắng ngắt. Mấy lần nó định đi lần về phía nghẹo đường xay, nhưng không đủ can đảm lê bước tới đó. Lúc này nó đã nhìn thấy ở đó treo một lá cờ VC. Nó trở vào mặt mày rầu rỉ:

“Trời lính mà ai cũng như tui thì Huế mất là phải. Biết vậy đừng có về cho xong. Ðã nghe lịnh cấm trại rồi mà còn về.”

Bé buồn cũng phải. Ðáng nhẽ ra dù Huế còn hay mất nó cũng phải có mặt với anh em. Nhưng ba tôi chết cuối năm, Bé được giấy phép mấy ngày đầu năm để lo việc nhà. Lúc này, đèn đuốc trên bàn thờ ba tôi lại sáng trưng, mỗi đứa chúng tôi đều thắp hương và cầu nguyện. Ðây là căn nhà thờ duy nhất của dòng họ tôi mà phải suốt cả một đời lăn lộn cực khổ làm ăn lương thiện, ba tôi mới gầy dựng nổi. Căn nhà chưa tu bổ thì ba tôi đã có một chỗ ngồi trong căn nhà thờ này. Súng đạn đêm qua và sáng nay đã nhân đức với căn nhà thờ của dòng họ chúng tôi ngoài mức tưởng tượng.

Rồi chúng tôi cũng còn lo ăn nữa. Bữa cơm trưa được nấu vội vàng nhưng không có đồ ăn. Ngày cuối năm thì xong việc đám ma. Ðến ngày mồng một gia đình tôi nguyện ăn chay để cầu nguyện cho người chết. Ðáng nhẽ phải ăn Tết ở ngôi nhà anh Lễ tôi ở Từ Ðàm, chúng tôi, kể cả anh Lễ, má tôi, cô em gái, mấy đứa cháu nhỏ, cùng mấy đứa em con chú đã tình nguyện ở lại để cầu kinh. Căn nhà thờ chứ không phải là nơi để ở nên thiếu thốn đủ thứ. Chúng tôi phải nạy cửa nhà ngang, xuống căn nhà phụ cho ông giáo Trường An Cựu thuê, vợ chồng họ về quê ăn Tết, để lấy chén bát và tìm đồ gia vị như nước mắm, muối ớt. Khổ là vì không định ở đây, chúng tôi không tích trữ gạo. Lúc này đã không còn nghe tiếng súng, hoặc có thì cũng chỉ là tiếng súng nhỏ vọng xa xa, ở một miệt nào đó. Như thế là nghĩa lý gì? Không có một chiếc máy bay, không có một chiếc xe chạy.

Ðoàn xe Mỹ đã vào tới thành phố tan biến đi ngả nào. Những Việt cộng vừa tụ họp tại nghẹo Hàng Xay bỗng tản đi đâu hết. Tại sao chú tôi ở xóm trên chỉ cách một con đường rầy, mấy cái vườn, cũng không xuống được. Lâu lâu lại thấy một đoàn người đi đâu ngoài đường phía dưới quốc lộ, vào thành phố. Căn nhà thờ của chúng tôi nằm ở An Cựu, sát ngoại ô, lại ngay đường quốc lộ nối Phú Bài với Huế.

Trong thành phố Huế lúc này ra sao, chúng tôi không tài nào đoán nổi. Cả nhà hợp nhau lại sửa căn hầm cũ dưới nhà bếp. Tiếng súng càng về chiều càng dữ dội. Ngoài đường bỗng vắng tanh. Ở nhà bếp, nhà trên, dân trong xóm đến tỵ nạn nằm la liệt mấy căn buồng nhỏ được che hai ba mặt tường. Má tôi sai đứa cháu dâu nhóm bếp nấu một nồi cháo, chắc chẳng ai còn lòng dạ nào ngồi ăn cơm chiều. Nhưng nồi cháo nấu vừa chín tới thì Thái đã nhìn thấy có người đi lại ở ngoài đường. Mặc kệ tiếng súng đang nổ ran mọi phía, mặc kệ bom đạn có thể nổ ngay trên đầu mình, cả nhà chúng tôi tràn ra sân, rồi ra đường cái. Một hai người đạp xe từ phía cầu An Cựu đi lui đi tới, Thái vẫy lại hỏi: “Ngoài nớ có ai đi không?” “Người ta tản cư qua bên sông hết.” Má tôi la lớn:

“Lên Bến Ngự Từ Ðàm được không?”

“Chắc được.”

Nghe tiếng “chắc được” thôi mà cả gia đình tôi cũng tràn trề hy vọng. Mấy đứa cháu giục phải di tản qua bên kia sông hoặc lên Từ Ðàm chứ ở đây chắc chết hết. Việt cộng đã về đóng kín hết mọi nhà, mọi đường phố. Nhà chúng tôi lại nằm ngay giữa hai cái đồn và ngọn đồi Thánh Giá nằm ngay phía đàng sau lưng. Nếu xáp lá cà ở đây một trận chắc cả làng An Cựu ra tro hết. Má tôi vơ vội một ít quần áo của ba tôi những thứ còn bỏ lại, không đem liệm cho người chết. Bà gói lại cẩn thận. Gia đình mấy đứa em họ tôi thì lo gánh gạo, quần áo, nồi chảo và những dụng cụ cần thiết. Tôi xách cái ví tay, cái xách nhỏ. Anh tôi dắt chiếc Honda chở em gái tôi với hai đứa cháu đi trước. Tới gần cầu An Cựu, má tôi nói anh cứ đi trước đi, chở con và em lên rồi trở lại đón từng người bằng xe cho mau. Thái lấy chiếc xe đạp tìm đường sang phố. Chúng tôi chia tay ở trước đồn vận tải. Từng đoàn người cắm cúi lật đật, bồng bế, xách gói chạy qua phía cầu. Chúng tôi theo họ nhưng tới cầu cả bọn không được đi về phía Tân Lăng, Phú Cam mà cứ bị xua lại cầu. Lúc chúng tôi chạy tới, một trong hai người đàn ông gác cầu đưa tay chận lại:

“Ði đâu, bà con ai ở yên trong nhà, không được chạy.”

Tôi đứng sững đàng sau lưng má tôi. Hai người đàn ông mặc quần áo ka ki vàng, nhưng chân đi dép. Không phải là lính quốc gia rồi; chắc họ là quân giải phóng. Tôi nhìn sững họ không nói được một câu, miệng tôi cứng lại. Má tôi nói như muốn khóc:

“Nhà cửa sập rồi mấy ông ơi, còn chi mà ở. Tui sang nhà bà con bên kia sông.”

Lúc đó tôi không còn thấy bóng em tôi chở em gái và cháu tôi đâu nữa. Tôi nghĩ là anh đã đi thoát rồi. Hai người lính vẫy cho chúng tôi qua cầu. Mấy vũng máu đọng giữa cầu chưa khô, ruồi nhặng bu đen xì. Chỉ một đoạn đường ngắn mà tôi nhìn thấy biết bao nhiêu dép, giày vớ, quần áo rách, bị rết, ba lô văng bừa bãi, dính lẫn với máu và những mảnh thịt.

Má tôi bảo qua cầu rồi cứ đi dọc bờ sông tìm đường lên căn nhà ở Từ Ðàm. Nhưng đi được một đoạn, chúng tôi thấy những người đi trước lúp xúp chạy trở lại, vừa chạy vừa khóc. Chúng tôi hỏi họ không nói ra được, cứ làm dấu vẫy lui. Tôi chận một cô nhỏ:

“Sao trở lui vậy em?”

“Trên nớ, nơi cầu Phủ Cam họ đứng đầy, họ gác, họ đuổi lui.”

“Cứ đi tràn không được à?”

“Họ bắn hai ba người.”

Má tôi níu chúng tôi lại. Mấy đứa em tôi cũng hốt hoảng bảo vợ con tất tưởi đi lui. Chúng là lính gặp họ chắc không ổn rồi.

Không hiểu nhờ phép lạ nào mà khi qua cầu họ không hỏi tỉ mỉ. Khi má tôi xin qua cầu được, cả đoàn cứ nối đuôi nhau mà chạy. Cũng có lẽ họ còn bận với những đoàn người đi sau.

Qua được cầu rồi, lúc này tôi mới dám nhìn hai bên đường phố. Chợ An Cựu như một bãi chiến trường, máu còn chưa khô, máu in đỏ trên những bức tường loang lổ vết đạn. Một chiếc xe tăng lủi vào lề đường đâm vào một căn phố, tấm bảng hiệu còn treo lủng lẳng. Hai ba căn phố không còn hình dáng gì. Không một căn nhà trước đường nào còn nguyên. Giữa đường đầy rẫy chướng ngại vật, máu me, quần áo, rác, sắt vụn, gỗ ván. Chúng tôi len lỏi mà đi. Không một đôi mắt nhìn ra cửa, những căn nhà như đã hoang vắng hết. Không còn biết đâu yên mà chạy tới nữa. Thôi cứ liều, má tôi nói liều mà tìm đường lên Từ Ðàm, gia đình họp lại sống chết có nhau. Chúng tôi đi hết con đường ngắn, dọc xuống Lê Lợi. Con đường đàng trước mặt dẫn sang nhà bưu điện và cầu Tràng Tiền sao vắng ngắt. Tiếng súng ở mặt nhà dây thép nổ như bắp rang. Ðoàn người này đi tới, đoàn người kia chạy lui, không kịp nghe nhau trả lời, cứ thế, chạy loanh quanh trong những khu vực chưa bị kiểm soát. Cuối cùng chúng tôi dồn vào khu nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế.

Không còn chạy đi đâu được nữa, phía trước mặt người ta đã chạy lui lại hết. Phía đàng sau cũng không còn đường trở lui. Má tôi kêu trời kêu đất. Anh tôi đã mất tăm dạng. Ngoài đường thưa người dần và nhiều tiếng súng gần tới nơi. Mọi người chạy ào vào bên trong nhà thờ hết. Tất cả được dồn vào khu nhà giảng. Tiếng súng như đã bao quanh khu nhà thờ.

Má tôi kêu chúng tôi xuống căn hầm xây dưới giảng đường nhưng chỗ đó không còn chen chân nổi. Chúng tôi lại kéo nhau vào một chỗ trong góc. Bé trải chiếc chiếu cũ, cả nhà hơn mười người, gồm người lớn và con nít chen nhau một chỗ ngồi nhỏ. Khi tìm ra được một chỗ ngồi rồi, tôi mới nghe thấy tiếng vo ve từ dưới hầm đưa lên, tiếng trẻ con la khóc, tiếng cãi nhau, tranh giành nhau một góc nhà. Bên ngoài tiếng súng vẫn nổ ròn rã. Ðược một lát khi tiếng súng dứt, một số người khác chạy đến nhà thờ. Tôi chạy ra sân gặp Thái đi vào. Nó chụp lấy vai tôi: "Vô đi chị. Súng còn nhiều lắm."

Tôi hỏi:

“Sao em trở lại, có gặp anh Lễ không?”

“Không chị ơi, em lên cầu Kho Rèn, định đi qua cầu, gặp họ họ kêu lại, bắt giữ em. Em năn nỉ mãi mới cho đi. Em tưởng em bị bắt rồi.”

Tôi hỏi Thái thấy gì không. Thái nói thấy gần mũi cầu xác chết còn la liệt. Một số người bị bắt ngồi bên kia cầu. Có hai ba người Mỹ bị trói dẫn đi.

Một số người khác lại tràn vào nhà thờ, tôi tới hỏi thăm có ai miệt cầu Bến Ngự về có thấy một người đàn ông chở hai đứa nhỏ và một cô gái không. Một cậu nhỏ kể: có thấy một người đàn ông, chở hai đứa nhỏ với một cô gái cứ phóng đại xe qua cầu. Họ bắn mấy phát, xe suýt đâm xuống sông. Họ giữ lại, rồi thấy tha cho đi lên phía cầu Bến Ngự. Thái nghe nói quả quyết anh Lễ đã thoát. Tôi dẫn Thái tới chỗ má tôi ngồi. Mấy đứa cháu nhỏ đang ngồi ăn bánh chưng. Má tôi đưa mắt nhìn tôi dò hỏi. Tôi kể lại chuyện vừa nghe được cho má tôi nghe. Thái kêu khát nước, vặn cái vòi nhưng không có một giọt nước nào. Mấy đứa nhỏ đái cả ra chiếu.

Người này cứ hỏi người kia mãi về những điều đã trông thấy, đã kể. Tôi hỏi thăm Thái về đường đi lên Từ Ðàm, Thái nói qua cầu Tràng Tiền được, không đi lên Nam Giao được. Nó đã cố hết sức, nhưng thấy không có cách nào nên đành quay về nhà thờ, không ngờ gặp gia đình cũng ở đó. Tôi và Thái cứ nghe êm êm tiếng súng là ra sân đứng ngóng, cho tới chiều tối không thấy anh tôi trở lại. Chúng tôi dắt nhau đi vào. Thái lấy cái áo măng tô của ba tôi để lại, khoác vào người tôi:

"Chị mặc đi kẻo lạnh."

Trời mưa lất phất, cả một ngày tôi không còn đủ sức để ý đến bầu trời, đến cây cỏ. Tôi nhìn lên bầu trời màu chì, nặng nhọc, những hạt mưa bám vào tóc, vào mặt không làm tôi lạnh hơn. Sự lạnh lẽo, tê cóng, lo sợ, run rẩy suốt một ngày đã bóp cứng da thịt, và thể xác tôi đã như bị ướp trong tủ lạnh. Khi trở vào tôi bước qua chân mấy người bị thương nằm la liệt ở một phòng nhỏ gần cửa ra vào. Mấy người đàn ông đang băng bó, họ làm việc cũng lăng xăng lắm. Mấy ngọn đèn cầy đã được thắp ở mấy cái bục, ở các hàng ghế, khi tôi vừa xuống khỏi mấy bực cấp nơi khoảng giữa giảng đường xây cao, đặt tượng Ðức Mẹ, tôi bỗng ngồi thụp xuống. Hình như Thái cũng kéo tay tôi nữa. Một tiếng vỡ khô khan. Tiếng một người rú lên. Khi định tỉnh nhìn lại, một trong hai chậu cây kê ở hai cái bệ đá đã đổ xuống. Chị đàn bà nằm sấp xuống nền gạch, bên cạnh những mảnh sành vỡ. Chị đã dựa đầu vào cái chậu, và quên đi. Cái chậu rơi, đẩy chị ngã bổ nhào. Nhiều tiếng chửi rủa vang lên ở nhiều góc tối. Tôi ngồi bó gối bên cạnh má tôi và Thái. Má tôi chưa ăn gì, tôi cũng vậy. Thái hỏi tôi có đói không rồi chạy đi, một lát, nó trở vào với đòn bánh tét trên tay. Cầm miếng bánh đưa lên miệng, tôi nuốt không trôi. Tôi cũng không thấy đói, thấy khát mà chỉ thấy trong lòng cồn cào trăm thứ.

Một ngày rồi, tôi không nhớ chồng con. Căn nhà nhỏ của gia đình tôi ở Sài Gòn lúc này ra sao? Có yên ổn không? Chồng con tôi đang làm gì? Tôi tưởng tượng từng khuôn mặt các con, hình dáng đi ra đi vào của chồng, rồi cả bữa cơm tẻ nhạt nữa. Bữa cơm không có bàn tay người đàn bà, thiếu chỗ ngồi đó, bữa cơm tẻ nhạt tội nghiệp lắm. Má tôi cầm chặt tay tôi:

“Con ơi, dựa vào vai mạ mà ngủ.”

Thái đứng lên, nó nói phải đi kiếm một chỗ nào tốt hơn. Tôi gục đầu vào vai má tôi. Mấy đứa cháu nhỏ đang khóc, đòi nước, đòi cơm, đòi sữa. Tôi nghe tiếng cánh cửa sắt phía cửa chính kêu lẻng kẻng. Không có một ai ở ngoài đường, ngoài sân. Ngôi nhà giảng rộng lớn có mái cong và nhiều chỗ đặt kính, tường thật dày, cách khoảng những lá cửa bằng gỗ lim đóng chặt.

Nhiều tiếng đạn lớn bay ngang qua khu nhà thờ, rồi tiếng nổ ầm ầm sau đó. Má tôi kéo tôi tựa người vào bà. Tôi ngồi như thế và nhìn mãi ngọn đèn cầy đặt nơi chân ghế, trước mặt. Ngọn lửa không nhắc nhủ tôi gì hết, cũng không đem tới chút hy vọng nào.

Tôi nghe những tiếng khóc nhỏ, nhiều vô số kể. Có tiếng khóc thét lên ở góc phòng đằng kia. Chắc một người nào đó vừa mới chết.

Có tiếng dép lẹp xẹp từ một ngách nhỏ nối liền nhà ngang. Rồi một cái bóng to lớn nổi lên ở khoảng tường đằng trước mặt. Rồi lố nhố những cái bóng nhỏ khác, đầu với nửa người cũng hiện lên theo. Tôi quay lại, trên cái bục cao, dưới tượng Ðức Mẹ, một người đàn ông mặc áo chùng đen đang đứng giơ cao ngọn đuốc. Một ông thầy, một linh mục. Tất cả mọi tiếng khóc rấm rứt, những tiếng thì thầm vụt biến mất. Tôi nghe phía đó cất lên một giọng nói:

“Tắt hết đèn cầy đi, tôi sẽ đặt ngọn đuốc này ở đây. Mọi người bình tĩnh và tìm chỗ ngủ đi. Chúa sẽ che chở cho chúng ta.”

Ngọn đuốc chiếu những đầu người ngồi lổm chổm lên tường, nhưng chiếc bóng của ông linh mục ngắn dần, rồi biến mất.
Nhà thờ dòng Chúa Cứu thế

Những tiếng khóc tấm tức đã rời rạc, nhạt nhẽo dần. Tất cả các ngọn đèn cầy cháy đã lụi tàn, nhưng bên trong nhà thờ không còn đủ không khí để thở. Thái đã cố gắng dồn được cho má tôi một chỗ nằm khá thoải mái. Dĩ nhiên được một chỗ nằm như thế là đương đầu với sự nguy hiểm nhiều hơn. Tôi và em Thái cũng chọn một chỗ nằm trên hàng ghế nguyện. Mọi người khác chiếm những chỗ kín đáo, như chui giữa các dãy ghế trống, hoặc dưới chân bàn, chân ghế. Họ hy vọng những vật chặn mảnh mai đó sẽ chống đỡ phần nào bom đạn cho họ. Chúng tôi chọn hai chiếc ghế dài gần nhau, nhờ vậy hai chị em có thể thì thầm trò chuyện. Bầu trời bên ngoài gần như yên tĩnh, lâu lâu, điểm vài tiếng nổ xé nát. Gạch đá, kính vỡ lại loảng xoảng rơi. Tôi lo lắng:

“Hay mình xuống đất nằm đi.”

Thái cản:

“Cứ nằm đây. Trái bom nếu nó trúng thì đất cũng tung lên, mấy cái bàn, cái ghế nhằm nhò chi. Nằm ở đây dù gì cũng còn dễ thở, chị. Không can chi mô!”

Bây giờ thì thấy chưa can chi. Nhưng khi can chi thì... Nhưng trong lúc hoảng sợ, còn nghe tiếng người trấn an, cũng đỡ nhiều lắm. Mà xuống sàn, chắc tôi cũng không chịu đựng với hơi người, tiếng rên rỉ kêu la của người bị thương chưa được băng bó. Cứ nghe tiếng nổ là má tôi chồm dậy:

“Xuống đất. Xuống đất hết đi bây.”

Thấy kêu hoài mà không nghe con cháu trả lời, má tôi càu nhàu rồi cũng chịu phép. Tôi nằm thẳng, mắt mở lớn nhìn lên trần nhà mà mái đã bị vạt nhiều góc, thỉnh thoảng thấy những ánh sáng xanh lè xẹt qua rồi tiếp theo tiếng nổ long trời lở đất. Qua khung kính đủ màu trên vòm nhà thờ, có những ánh sáng lù mù mà tôi đoán là của hỏa châu, vì đó là thứ ánh sáng chỉ chập chờn, chập chờn rồi tắt ngúm, điểm vào những tia lửa xẹt và những tiếng nổ lớn gầm thét.

Tôi cố nằm thật im, cố ôn lại những phút kinh hoàng đầu tiên của thành phố Huế và cũng để quen dần với biến cố khủng khiếp đang kéo dài. Mới chưa qua một ngày mà thời gian dài như cả tháng, cả năm. Ðã có lúc, hy vọng có bừng lên. Ðó là lúc ngồi ở bệ đá, tôi nghe lời bàn tán của các người chạy loạn:

“Chắc một hai bữa rồi về. Mấy người lính giải phóng nói họ chỉ ở chơi ăn Tết với đồng bào bảy ngày rồi họ đi.”

Mới ngày thứ nhất đã bao nhiêu người chết, máu đổ. Chúng tôi chỉ mới chịu được có một ngày. Còn những ngày tới...

Tôi đang nghĩ mông lung để dằn nén cơn sợ hãi thì bỗng bàn chân tôi bị ai nắm lấy, kéo một cái. Tôi rụt chân lại, không dám la, chỉ ú ớ rồi ngồi rột dậy. Thái nghe tiếng động, bên ghế kia cũng bật ngồi dậy theo.

“Chi rứa chị. Chi rứa?”

Giọng Thái nhỏ nhưng đầy sự lo âu. Tôi há miệng mà không nói ra lời, quai hàm tôi cứng ngắc. Trước mặt tôi, Trúc cũng đã ngồi dậy tự bao giờ, rên khẽ:

“Chị ngó coi. Ai nơi a tề?”

Nó nhào qua, bấu chặt lấy vai tôi. Hai mắt tôi mở trừng trừng. Chỉ một màn đen. Bàn tay của ai đó đã buông chân tôi ra. Nếu không có ánh hỏa châu bên ngoài vừa xẹt sáng thì tôi không nhận ra cái bóng đen đang chồm tới phía chúng tôi.

“Em...em...”

Giọng Thái:

“Chị đừng sợ.”

Cái bóng vấp vào chân ghế, rồi một giọng nói yếu ớt:

“Cho em ngủ chung với, em sợ quá chị ơi.”

Nhận ra giọng nói của Thu, cô em họ, tôi vẫn chưa hoàn hồn. Nhưng tôi đã mở miệng được:

“Nói nho nhỏ. Sợ chi vậy?”

Thu thì thầm:

“Em nằm bên cạnh cái bà mà khi chiều mình thấy đó. Bà đó ôm cái bọc nhỏ trước ngực. Nằm mà cũng ôm khư khư không rời...”

“Thì kệ bà nớ. Có chi mà sợ chớ.”

“Em ngửi thấy mùi hôi, hôi lắm.”

Tôi nạt nhỏ:

“Nhiều chuyện. Chạy cả ngày, có người sợ đái trong quần. Hôi chớ răng không hôi. Mai mốt em cũng hôi như cú.”

“Không phải. Em nằm sát bên cạnh, thấy ghê ghê. Bà cứ khóc rỉ rả như con dế kêu, rồi cứ nói lầm bầm trong miệng như điên, mà cái mùi... nó kỳ lỳ... Em sợ lắm.”

Thái phải co chân lại, nằm sát một đầu ghế để nhường chỗ cho Thu ghé vào.

Ðêm đầu tiên xa nhà, ngủ ở một nơi hoàn toàn xa lạ với sự sợ hãi giày vò, không biết thân mạng mình sẽ ra sao, gần hai giờ sáng mà tôi vẫn không chợp mắt được mặc dù quá mệt mỏi. Bỗng nhiên tôi nghe một tiếng kêu rú thất thanh và tiếng rú không ngừng, vẫn tiếp tục. Tôi hoảng sợ đứng bật dậy, và trong khi đứng dậy, tôi đạp nhầm một người nào đó đang nằm giữa lòng ghế. Tức thì bắp đùi tôi bị véo một cái đau điếng buốt lên tận đầu, nhưng cũng nhờ đó mà tôi tỉnh táo được. Nhiều tiếng kêu, tiếng lào xào bàn tán, rồi đột ngột rơi vào sự im lặng, như mọi người đã biến mất hết trong bóng tối. Rồi mọi người lại hiện ra, toàn những đầu là đầu khi một que diêm lóe lên và một ngọn đuốc trên bục được thắp sáng. Cha Sở đang bước lên cái bục gỗ nhỏ, giọng lo lắng hỏi:

“Có chuyện chi rứa, bà con? Có ai bị thương?”

Có tiếng khóc từ một góc xa, tiếng một người già rụt rè lẫn trong tiếng rên rỉ của ai đó.

“Dạ thưa cha, có người... có người đau bụng... đẻ.”

Nhiều tiếng thở ra. Nhiều tiếng bầu bầu khó chịu. Trong hoàn cảnh này không ai còn đủ sức lo cho ai, thương cho ai ngoài thân mình. Nhiều cái đầu ngã xuống, nhiều người nằm ngủ trở lại. Cha Sở càng lộ vẻ lo lắng:

“Có ai biết đỡ đẻ không? Có ai là y tá không?”

Im lặng.

Cha Sở lớn tiếng hơn, nhắc lại:

“Ai biết đỡ đẻ, xin giúp... Tôi yêu cầu quí vị...”

Không có ai trả lời hết. Tiếng xì xào cũng ngưng bặt và giọng cha Sở hoàn toàn rơi vào im vắng. Ánh đuốc lung linh chiếu lờ mờ khuôn mặt đầy tuyệt vọng của cha. Cha Sở đốt một ngọn đèn cầy rồi cố mở đường đi xuống giữa hai hàng ghế.

“Có ai không? Có ai không?”

Tiếng cha Sở càng lúc càng lạc lõng, vô vọng.

Cha Sở vẫn cố gắng len lỏi đi xuống thêm những dãy ghế cuối. Buổi chiều người ta đã giành nhau quay ghế thành từng khu riêng cho từng gia đình. Những người đến sau, chịu thiệt thòi, nằm tràn ra sàn nhà, chỗ nào lọt được để nằm hoặc ngồi là họ tranh giành nhau.

“Có ai làm ơn. Xin Chúa chúc phúc cho người hiền lương, xin bà con rủ lòng thương xót...”

Sự tận tụy của cha Sở rồi cũng được một vài người đáp ứng khi cha xuống đến cuối phòng. Vài bóng người đi theo cha, tôi không nhìn rõ họ nhưng tôi biết trong đám đó có Thái.

Người ta khiêng người đàn bà chuyển bụng đẻ lên căn gác lửng nơi dành cho ban nhạc trong các buổi lễ hoặc buổi giảng. Căn gác này hoàn toàn trống, nó gần mái nhà và được coi là nơi nguy hiểm nhất, không ai can đảm lên đó để núp bom đạn.

“Lên đó dễ sợ lắm, dễ ăn bom...”

Một giọng nói xì xầm, không chút xót thương người mà gần như còn mừng cho mình kiếm được chỗ tốt hơn. Tôi âm thầm cầu nguyện, năn nỉ bom đạn ngoài kia, xin ngừng lại một lúc cho người đàn bà qua cơn hoạn nạn.

Trên căn gác lửng, tiếng rên la của người đàn bà bắt đầu thảm thiết hơn, rền rĩ hơn. Con Thu bạo dạn nghểnh đầu nghe ngóng, nó phê một câu:

“Chị ơi, cái bà ni không biết dị chi hết. Ðẻ mà la quá trời...”

Con Thu chưa làm mẹ, nó làm sao hiểu được cảnh người đàn bà qua biển mồ côi một mình. Tôi đã sinh đẻ, tôi biết cơn đau đẻ hành hạ người đàn bà như thế nào, nhưng lúc này tôi cũng không thể chia sẻ gì được cho bà ta. Tôi đã mệt quá, cơn đau đẻ của bà làm cho tôi càng mệt thêm. Không khí như từ đâu tràn vào, xông tới và tôi thở phào, nhẹ nhõm khi nghe tiếng con nít khóc oa oa chào đời. Tiếng khóc mạnh mẽ, bất chấp, không biết có đem sự tin tưởng, hy vọng, sức lực tiếp cho ai không, nhưng với tôi thì có. Cám ơn tiếng khóc chào đời trong cảnh khốn cùng tuyệt vọng.

“Khỏe re. Hết mệt cái lỗ tai. Bà nớ đẻ rồi.”

Giọng Thu có chút vui vẻ mà dửng dưng. Tiếng khóc của đứa trẻ lại nổi lên, mạnh dạn, như thi đua với tiếng bom, tiếng đạn bên ngoài đang hứng dậïy. Tôi nhớ một câu trong Thánh Kinh: Mừng rằng mình đã sanh một người cho thế gian... Ðêm nay, đâu chỉ ở trong cái góc tả tơi, trong sự sống sự chết này có một con người mới tới, mà trong thành phố Huế, trong ly loạn, vẫn còn có những tiếng khóc khác nữa, đang lăn xả vào đời. Tiếng khóc sơ sinh trong căn nhà đang bắt lửa cháy, trong lúc viên đạn đã đi đến nửa chừng. Tiếng khóc ra đời để kết thúc những đau đớn vết thương trên thân thể người mẹ đang giờ hấp hối... Tiếng con nít khóc càng làm tôi nhớ tới các con tôi lúc này đang ở Sài Gòn. Có chuyện gì xẩy ra nơi đó không? Có không? Nếu có chuyện gì thì ruột mẹ sẽ đau, sẽ đứt, nếu có chuyện gì xẩy ra cho mẹ, ruột của các con cũng đau, cũng đứt...

Ngọn đuốc trên bệ đá đã được thổi tắt, nhưng trên căn gác vẫn còn chút ánh sáng rọi xuống. Nguời mẹ đã hết rên đau. Ðứa bé đã hết khóc. Tôi hình dung chị đàn bà đang ngủ. Hài nhi cũng ngủ. Hai giấc ngủ hòa hợp bình yên mặc kệ giông bão, bom đạn của cuộc đời đang ào ạt tới.

Nhưng đêm cũng bắt con người ngừng bớt sự giết chóc. Tiếng bom thưa thớt hơn và những tràng súng lâu lâu mới điểm để không có sự trống trải của đêm dài. Tôi chợp mắt được.

Gần sáng, tôi bỗng thức tỉnh. Quên là đang ngủ trên cái ghế dài, hẹp, tôi ngồi bật dậy như khi còn ở nhà mình. Tôi chao đảo muốn té. Vừa lúc đó tôi cũng chợt nhận ra hoàn cảnh của mình lúc này. Trước hết tôi đảo mắt tìm má tôi. Bà vẫn nằm co quắp, đầu gối lên cái giỏ đựng quần áo. Thu và Thái nằm ngược chiều, đầu châu vào nhau, cũng co quắp người mới đủ chỗ. Còn sớm lắm, bầu trời chưa sáng hẳn nhưng bên ngoài vẫn chiếu vào những luồng sáng của hỏa châu. Không còn tiếng bom, không còn tiếng súng. Bên ngoài im vắng đến ngột ngạt và không hiểu chuyện gì đã xẩy ra? Tôi định qua đánh thức má tôi dậy. Nhưng vừa bỏ chân xuống chưa tới mặt sàn, người tôi như bị điện giựt. Rõ ràng tôi đạp lên một thân người, nhưng cái thân cứng như cây củi, mà lạnh ngắt. Hỏa châu lại chiếu vào, lại cho tôi nhìn thấy một xác chết nằm giữa hai hàng ghế, mắt vẫn còn mở trừng trừng như hướng lên những lỗ hổng trên mái nhà để thấy ánh sáng. Không biết tôi đã dùng bao nhiêu sức lực, hay cái thân tôi biến thành cái lò xo nhảy bắn tới chỗ Thái nằm, chồm lên đầu Thái và Thu. Hai đứa em bừng tỉnh, cuống quíu ôm chặt tôi:

“Chi rứa chị? Chi rứa?”

Tôi ú ớ. Hai đứa em ngơ ngác nhìn quanh. Mọi người vẫn còn ngủ say. Lúc này ánh sáng ngoài trời khá tỏ, đã chui vào từ những lỗ hổng trên mái nên có thể thấy toàn cảnh tuy không được rõ ràng. Thái vẫn chưa thấy xác chết nằm dưới đất nên hỏi:

“Chuyện chi rứa chị. Có chi mà chị sợ?”

Không dám lên tiếng, chỉ đưa tay chỉ. Con Thu rụt đầu, bưng tai:

“Trời đất. Coi tề. Dễ sợ quá, sợ quá...”

Thái ra dấu cho chúng tôi im lặng. Thái đã từng là một cán bộ xây dựng nông thôn nên thấy người chết cũng đã nhiều, nó không sợ hãi.

“Chị và Thu ngồi yên ở đây. Ngồi bỏ chân lên ghế. Ðể em...”

Thái bỏ đi, nói là tìm cha Sở. Mấy chị em tôi ngồi co rút người, ôm chặt lấy nhau. Phía bên kia, má tôi quá mệt mỏi, còn ngủ nhừ. Một lát sau xác chết được khiêng ra ngoài. Nơi chỗ nằm của xác chết vừa được mang đi, còn để lại một vũng nước vàng bầy nhầy máu mủ chảy ra từ vết thương. Thái lấy khăn mùi soa cột ngang miệng mũi rồi đi dọn dẹp. Xong xuôi, Thái đổi chỗ cho tôi:

“Chị nằm đó nghỉ đi. Em qua bên ghế kia.”

Thái nhướng mắt, lắng tai nghe ngóng:

“Bên ngoài im rơ. Khi hồi em khiêng xác chết ra ngoài cũng thấy lặng như tờ. Chắc yên rồi. Chờ sáng coi ra răng rồi mình về nhà.”

Tôi vẫn không tin tưởng:

“Biết ra răng mà dám về. Ðợi coi người ta răng thì mình theo....”

“Rứa chị nằm ngủ đi. Coi con mắt chị đỏ kè tề...”

Nhưng chưa kịp nằm xuống, Thu đã kéo giật tôi:

“Chị ơi, chị...”

“Chi nữa?”

“Coi cái bà đó tề. Bà đó khi túi nằm gần em, răng chừ mò tới gần đây rồi nì. I, chi coi...”

Từ dưới nền đất, cách chừng hai dãy ghế, một người đàn bà lồm cồm bò dậy. Chị đứng thẳng, tay vẫn ôm cái bọc khư khư. Lúc này trời sáng, tôi nhận ra được cái bọc bằng vải, bên trong là gì? Một đứa bé? Sao không thấy cựa quậy nhúc nhích ? Ðứa bé bịnh nặng? Thiếu ăn? Hết hơi sức? Ðôi mắt của chị đàn bà không còn chút thần sắc. Chị liếc nhìn chúng tôi bằng ánh mắt khờ khạo rồi cúi xuống đung đưa cái bọc vải, giọng rền rĩ:

“À... ơi! Con ngủ đi con... À ơi... Ru hời ru hỡi là ru... Bên cạn thì chống, bên su (sâu) thì chèo... Ngủ đi con... Con ngoan... con ơi là con!”

Giọng chị rít lên:

“Con ơi là con. Con ơi!”

Chị đàn bà bật khóc. Tôi không hiểu tại sao chị ru con mà khóc? Chắc hôm qua nhà chị bị cháy, chồng chị chết rồi, chị bồng đứa con chạy thoát? Thái nằm day mặt về phía chị đàn bà, hỏi:

“Con chị đó há?”

Chị đàn bà gật đầu. Gật tới mấy cái liên tiếp.

“Nó mần răng mà chị khóc? Nó đau ốm chi không?”

Chị đàn bà ôm chặt cái bọc vải hơn, hơi quay người như sợ người ta giành mất:

“Không răng. Không răng hết.”

“Gia đình chị mô hết rồi?”

“Chết. Chết hết. Chết. Chết hết, còn mô nữa...”

Chị ngưng lại. Nước mắt đã nhòe nhoẹt trên gương mặt xanh xao. Tôi không dám nhìn khuôn mặt méo mó khổ đau đó. Con Thu nói nhỏ:

“Chắc mụ nớ điên. Ngó cặp mắt lờ đờ... dễ sợ...”

Lắc đầu, nghiêm mặt. Cũng không thể la đứa em. Nhiều người đã trở dậy. Nhiều người bạo gan đi ra ngoài tìm nước súc miệng, rửa mặt. Cha Sở trở lại, yêu cầu thân nhân phải khiêng những kẻ bị thương ra khu nhà ngang. Ở đó có một số thanh niên tình nguyện giúp đỡ, săn sóc, băng bó cho người bị thương. Nhưng không ai nghe lời, họ nghĩ dù người bị thương, được ở bên trong nhà thờ, gần gụi thân nhân vẫn an toàn hơn. Cha Sở phải cùng số thanh niên đi len lỏi vào các dãy ghế. Nhiều người được khiêng ra ngoài. Thái cũng hăng hái cùng đám thanh niên giúp cha Sở. Má tôi cũng đã dậy từ lúc nào, và Thái đã tìm được nước, dấp ướt khăn đem tới cho má tôi lau mặt. Tôi lần tới bên má, ngồi giữa má tôi và một bà cụ già khác.

“Má”.

Tôi nắm chặt tay bà. Hơi ấm. Thân thuộc. Êm ái. Tôi hơi tựa người vào mẹ:

“Má. Má có ngủ được không?”

“Gần sáng thì mệt quá, má ngủ mất hồi mô không hay. Họ có bắn nhau nhiều không?”

“ Ít thôi, má.”

“Ừa. Hèn chi ngủ yên, không bị giật mình.”

Tôi không kể cho má tôi nghe vài chuyện đã chứng kiến hồi nửa đêm về sáng. Má tôi lại hỏi:

“Liệu có yên không con. Mần răng mà về coi nhà cửa. Còn gia đình anh con trên Từ Ðàm nữa, bặt vô âm tín như ri làm má lo trong bụng quá. Chị nờ, tui còn thằng con trai, vợ nó, con nó đang kẹt trên Từ Ðàm...”

Má tôi lại bật khóc. Bà cụ ngồi bên cạnh an ủi:

“Ai cũng chịu chớ riêng chi mình chị. Khóc cũng không làm chi được. Tui, thằng con trai bị họ bắt từ bữa đầu, mấy đứa cháu chạy lạc mô không thấy, chết sống ra răng cũng không biết... Tui cũng bấy trong bụng chị nờ...”

Khuyên nhủ người đồng cảnh ngộ lại làm động mối thương tâm, bà cụ cũng ứa nước mắt. Bà đưa tay chỉ ông cụ đang ngồi phía đầu ghế đối diện, tay ôm bọc quần áo, nói:

“Ông nhà tui đó tề. Chừ chỉ còn hai cái mạng già với nhau còn con cháu trẻ không thấy mô... Ai cũng khổ hết.”

Chút tĩnh lặng trong nhà thờ bị quấy động. Mọi người đã trở dậy. Tiếng ồn ào như ong vỡ. Mấy cánh cửa gỗ lim chắc chắn được hé mở, ánh sáng lùa vào. Thái bỏ đi ra ngoài. Một lát sau Thái trở vào cho biết bên ngoài yên lắm. Nhiều người cũng đi ra nghe ngóng, có người còn ra tận đường phố đứng nhìn lui nhìn tới rồi trở vào thông tin cho mọi người. Lát sau, ngay trong sân nhà thờ, đã có nhiều nhóm tụm năm tụm ba nhìn ra con đường vắng ngắt như đã hoang phế từ bao lâu rồi.

“Lợi dụng đang yên, mình ra ngoài kiếm nước, chị.”

Mấy chị em dè dặt đi theo sau lưng Thái ra ngoài, tới giếng nước. Mọi người đã tới đây đông nghẹt và đang giành giựt nhau với chỉ một cái gàu múc nước. Giếng nước nằm cạnh một dãy nhà bếp nối liền với dãy nhà ngang nằm mé một khu vườn rộng trồng đủ loại cây trái. Qua một ngày một đêm tù túng bên trong nhà thờ, lúc này tôi mới hít thở được khí trời, nhìn thấy gốc cây ngọn cỏ và mặt đất còn bình yên.

Bầu trời nặng trĩu màu xám và bắt đầu rơi xuống những hạt mưa nhỏ như bụi. Tôi kéo vạt áo măng tô lại và cài nút kín cổ vì không khí bên ngoài giá lạnh. Cả đêm qua bên trong nhà thờ, đầy hơi người, đầy lo âu, tôi đã không thấy lạnh mà còn nóng bức. Lúc này đứng bên giếng nước, nhìn cỏ cây, mưa bụi, không khí trong lành, tôi thở hít không ngừng, thở hít ham hố như sợ ngày mai, ngày mốt sẽ không còn được thở trong bầu không khí như vậy nữa.

Một lúc sau tôi cũng phải rời giếng nước và vườn cây xanh um. Thu bỏ vào bên trong nhà thờ trước. Nó đã lấy được một lon bơ đầy nước. Thái rủ tôi ra đường coi có gì lạ không. Con đường như dài, rộng hơn ngày thường, trống vắng và đầy bí hiểm hơn ngày thường. Chúng tôi vòng lại phía sau, chỗ có một con đường tráng nhựa chạy thẳng, dẫn tới một bờ sông. Cũng có một vài người ra đến đó. Chúng tôi hỏi nhau, cũng không ai biết gì hơn chúng tôi cả.

Sau cùng, hai chị em tôi đi vào một xóm nhỏ. Mọi nhà đều cửa đóng then gài giữa những khu vườn nhỏ tắm mưa. Cũng còn vài nhà có người. Thấy chúng tôi, họ thò đầu ra ở những cánh cửa hé và hỏi thăm:

“Mấy người ở mô. Thấy ra răng rồi? Họ còn đó hay đã đi chưa?”

Chúng tôi còn biết gì hơn họ? Chúng tôi lắc đầu. Con đường phía trước không biết chuyện gì đang chờ đợi? Lúc đó, có một toán người từ bờ sông chạy ngược lên, họ ra dấu cho chúng tôi trở lại. Và rồi đám đông cùng theo chân chúng tôi, tụ trong sân nhà thờ. Họ cho biết họ ở phía bên kia cầu, họ đã chạy loạn và muốn trở về. Nhưng ở bên kia cầu lính Việt cộng đang canh giữ.

“Thấy chúng tôi, họ đuổi trở lại nhà. Chúng tôi chạy đại bất kể, họ đưa súng lên nhắm bắn. Rứa là tụi tôi chạy bán sống bán chết. Họ còn bắn đuổi theo dọa làm chúng tôi chạy té xấp té ngửa...”

Ðám người này vẫn chưa chịu vào bên trong nhà thờ để cha Sở xếp đặt chỗ ở. Họ cứ lớ ngớ nhìn ra đường, mỏi mắt ngóng chờ một người nào đó chạy tới để hỏi thăm tin tức nhà cửa của mình. Nhiều người còn có người nhà ở lại.

Và lạ lùng thay, không biết ở đâu chui ra, trong sân nhà thờ xuất hiện nhiều bộ mặt lạ. Họ như đã ở sẵn đây từ đêm rồi. Họ tản mát đâu phía sau khu vườn rộng, hay chính cả bên trong nhà thờ, lẫn trong dân chúng. Thái kéo tay tôi:

“Mình đừng đứng đây. Mấy người này sao thấy nghi quá.”

Hai chị em đi vào trong. Má tôi và bà cụ bên cạnh đều ngước mặt lên chờ đợi và nôn nóng hỏi:

“Có thấy chi không? Có nghe chi không?”

Tôi lắc đầu:

“Không thấy chi hết má. Bên ngoài yên lặng như thành phố ma vậy đó.”

Má tôi cắn môi, nuốt nước miếng, nhăn nhó:

“Biết rứa cứ ở nhà. Thà chết ở nhà còn hơn chết bờ chết bụi.”

Tôi còn biết lời gì để an ủi má tôi. Thu tới ngồi bên cạnh, thì thầm:

“Chị. Em biết có con đường tắt đi về nhà mình.”

“Họ gác ở hai đầu cầu. Không qua về được.”

“Ðường ni không phải qua cầu. Mình đi tới bờ sông, may ra có đò. Chỗ ni vắng lắm chị.”

“Không được. Ðừng có đi ẩu. Ðể coi người ta làm răng thì mình làm rứa.”

Ðến chín giờ sáng vẫn không nghe một tiếng súng nổ. Bên ngoài im lặng như tờ. Thình lình, có vài người chạy vào báo tin:

“Ðường đi được rồi. Bên kia sông, người ta đang tràn qua, nhiều lắm.”

Mọi người ùa ra. Tôi và Thái cũng chen chúc trong đám người cố ra khỏi cửa nhà thờ. Giữa sân, tụ tập tới mấy nhóm chạy loạn tới. Ðàn ông, đàn bà, bà già, con nít. Người đang hoa tay chỉ chỏ, kể chuyện, người khóc thút thít. Trẻ con nắm chặt áo người lớn với mặt mũi còn kinh hoảng thất sắc. Tôi chen mãi mới vào được bên trong, đứng gần một chị đàn bà:

“Chị ở mô chạy tới đây?”

“Tui ở dưới sân vận động. Nhà tui cháy rụi rồi.”

“Mới cháy?”

“Không. Cháy từ bữa qua lận. Không còn chi hết. Tui chừ tứ cố vô thân. Trời ơi là trời...”

Chị đàn bà khóc. Tôi hỏi tiếp:

“Ði đường thấy chi lạ không? Răng lại chạy tới đây?”

Chị đàn bà hỉ mũi, đưa tay quẹt nước mắt:

“Bữa qua dưới tui nhà ni cháy thì chạy qua nhà nọ. Họ tới đông lắm, không cho ai đi ra khỏi xóm. Sáng ni thấy có người chạy ngoài đường, mới chạy đại theo...”

“Họ để cho đi?”

“Họ chỉ bắt thanh niên thiếu nữ tập họp rồi đi khiêng người bị thương. Nghe nói có nhiều xác chết, phải đem chôn. Có rút đi mô hết, đang như kiến rồi biến như ma rứa đó. Giữa đường, thấy xác chết bất loạn.”
Ðang nói, thấy một người quen trong nhóm bên cạnh, chị nhào tới ôm chầm lấy, khóc bù lu bù loa:

“O ơi là o. Tan nát hết rồi o ơi...”

Người đàn bà lớn tuổi mắt rưng rưng, nhưng cố gắng an ủi hàng xóm:

“Khóc chi tào lao rứa. Có người ta có mình chớ. Mấy đứa nhỏ mô mà không thấy?”

Chị đàn bà lúc này mới nhìn quanh. Mấy đứa nhỏ con chị đang ngơ ngơ ngác ngác nhìn mấy người lớn khóc lóc, bàn tán. Chị túm mấy đứa con lại:

“Biểu đứng một chỗ không thì lại lạc. Nói không nghe... O ơi, tụi nó đây nì o. Từ bữa qua tới giờ chưa đứa nào có cái chi nhét vô miệng... Mà nhà cửa, bàn thờ ông bà ông vải cháy rụi rồi o ơi...”

“Còn thằng? Mô không thấy?”

“Tụi nó bắt rồi. Ði theo mấy người kia, không biết ra răng...”

“Con cháu tui cũng bị bắt đi. Nghe nói chỉ đi khiêng tải người bị thương rồi về. Hết việc thì về chớ giữ lại mần chi. Mình cứ cầu trời khấn Phật đi o nờ...”

Chị đàn bà vẫn khóc. Mấy đứa nhỏ níu chặt áo mẹ. Mưa phùn cùng nước mắt ướt đẫm mặt tôi. Tôi cần một chút không khí để thở. Lách ra ngoài, tôi gặp Thái đang nói chuyện với một người đàn ông cùng với gia đình của ông ta. Nhiều bọc lớn nhỏ, một đôi thúng gính đựng đầy đồ đạc lỉnh kỉnh. Người đàn bà chắc mới sinh, đứa bé còn nhỏ lắm, bọc trong một cái chăn cũ. Bà ta thở mệt nhọc, đứa con gái chừng mười một tuổi ôm đứa em trên tay, hết nhìn cha đến nhìn mẹ.

“Bác ở mô chạy về đây?” Thái hỏi.

“Tui ở trên Phú Cam. Trên đó tụi nó còn đông lắm.”

“Rứa răng bác chạy được?”

“Liều. Liều cậu ơi. Nhờ Chúa che mắt nên mới thoát được tới đây. Tụi nó đông lắm, chỗ mô cũng thấy tụi nó...”

“Bác có nghe tin tức chi không?”

“Cũng có nghe sơ sơ. Họ nói tụi giải phóng chiếm hết thành phố Huế rồi. Vài ba bữa nữa ông Hồ vô thăm ăn mừng chiến thắng. Họ nói ông Hồ mà vô đây, bà con được Bác phát gạo ăn không hết...”

“Ở đó mà có gạo. Cứt khô cũng không có. Từ bữa qua tới chừ gia đình tui mười một mạng chưa có hột cơm hột cháo mô trong bụng nì... Phách tấu...”

Người đàn ông vừa chen câu nói đeo kính cận. Xung quanh ông ta có năm sáu đứa nhỏ, đứa nắm áo, đứa nắm quần, kêu cha cha, con đói, mặt mũi méo xẹo, tèm nhem. Thái lại hỏi:

“Rứa chớ bác ở mô chạy tới đây rứa?”

“Bên tê sông.”

“Bên đó ra răng, bác?”

“Mấy ông vô tới nơi là khổ rồi. Bét mắt đã thấy họ đầy nhà, đầy vườn. Cha nào cũng ốm cà tong cà teo, đói đeo vàng hai con mắt mà toàn nói phách tấu không rứa. Người sống bấn loạn, người chết, người bị thương cũng bấn loạn, khiêng vất trong sân nhà người ta rồi vô nhà thấy chi cũng vơ cũng vét. Con trai con gái mới lớn bắt đi tải thương, chôn xác. Vô nhà kêu gọi nấu cơm cho quân giải phóng, mượn gạo, mượn mắm muối. Nói là mượn chớ cướp của dân thôi mấy ông mấy bà ơi... Nhà tui con đông, khi mô cũng trữ gạo, đồ khô, cá mắm. Rứa mà họ chở đi hết không chừa cho tui một nạm, còn nói phách, bữa mô Bác vô, gạo phát không cho dân... Ở nhà cũng chết đói, thôi liều mạng chạy qua đây xin cha gạo cứu mấy đứa con nít trước đã...”

“Dân bên đó chết nhiều không bác?”

“Thì bữa đầu đạn ở mô bắn như mưa. Chết chớ răng không chết. Sơ sơ tới sáng mùng hai, có mấy nhà chung quanh tui cũng mất sáu mạng...”

Thình lình một người đàn ông mặc áo măng tô đen đi tới. Cái áo măng tô thì dài mà người hắn thì ngắn nên cứ kéo phệt đất. Chắc chắn cái áo này cũng là của mượn thôi. Hắn hỏi:

“Bác từ đâu tới đây?”

Giọng ông ta lơ lớ không phải miền Bắc, cũng không phải miền Trung, khi thì như Quảng Bình hay Hà Tĩnh. Ông ta nhìn người đàn ông đeo kính gằm gằm. Người đàn ông đeo kính tránh luồng mắt của ông ta, cúi đầu. Mấy đứa nhỏ bíu chặt lấy người cha, sợ sệt. Thái bấm tay tôi. Chúng tôi lảng xa ra. Thái thì thầm:

“Thằng cha đó thấy khả nghi quá. Thôi đừng hỏi thăm nữa.”

Bây giờ trong các nhóm khác chạy vô sân nhà thờ, có những người bị thương được khiêng theo. Thái đẩy vai tôi:

“Chị đi vô trong đi. Ðứng đây cũng không làm chi được. Ðể em ở lại coi một lúc rồi vô sau.”

Tôi thấy nhiều người từ phía trong đang đi ra. Tôi tìm băng ghế của mình và ngồi xuống. Má tôi vẫn ngồi bó gối. Bà cụ già bên cạnh đang têm trầu. Những lá trầu đã héo, vôi đã khô. Ðứa em dâu đưa con cho tôi bế để ra ngoài tìm cách nấu cơm. Mấy đứa em tôi khi chạy loạn, bỏ lại hết, mỗi đứa đem theo một túi gạo. Nhưng tới trưa, đứa em tôi vẫn chưa thổi cơm được vì không có nước. Người ta bu quanh miệng giếng không còn chỗ chen chân, và vì nhiều người dùng quá nên các mạch nước rỉ ra không đủ cho những chiếc gàu chờ chực múc. Thái nhanh nhẹn ra xóm kiếm được mấy ổ bánh mì nguội đâu từ nhiều ngày và thịt hộp. Chưa bao giờ chúng tôi thấy những hộp thịt gà, hộp bơ, đồ viện trợ Mỹ quí giá tới như vậy. Ngày thường tôi không nuốt nổi mấy thứ này.

Trời đánh còn tránh bữa ăn. Tôi nhớ một câu các cụ thường nói. Vậy mà đang ăn nửa chừng thì tiếng súng lại nổ, nổ rất ròn rã ở phía bờ sông. Khu nhà thờ quay mặt ra đường lớn, phía trước mặt nhà thờ, bên kia đường là ruộng. Khu ruộng khá lớn, chạy dài tới tận con đường dẫn ra nhà dây thép. Phía sau lưng nhà thờ, cách một xóm nhỏ là bờ sông. Một nhánh của sông Hương, chảy từ Cầu Lòn, về tới Ga Huế, qua Bến Ngự, Phủ Cam, tới An Cựu và còn chảy dài xuôi về đâu nữa, tôi không biết. Càng về chiều tiếng súng thưa dần và vợ Bé nấu được nồi cơm. Chúng tôi không đem theo chén bát nên mỗi người phải lấy tay mình nắm cơm chia cho nhau. Nhưng khi nồi cơm vừa bày ra, thì cả chục bàn tay, cả chục miếng miểng, chén sứt mẻ chìa ra. Một lũ trẻ con đói ùa tới. Nồi cơm nhỏ phải chia năm xẻ mười... Phần còn lại chẳng được bao nhiêu, chúng tôi lại cứ nhường qua nhường lại. Rồi mỗi người cũng chia nhau ăn một ít. Hèn chi má tôi thường mắng chúng tôi mỗi khi hoang phí: hạt cơm là hạt ngọc của trời. Vợ Bé cạo nồi đưa thêm cho tôi một miếng cơm cháy nhỏ. Nhưng miếng cháy bị giựt và một đứa nhỏ chạy biến, lẫn vào đám đông nằm ngồi nghiêng ngửa.

Nhìn theo thằng bé, tôi chợt bắt gặp chị đàn bà ôm bọc vải. Chị ngồi dựa vào chân ghế, đôi mắt ngơ ngác thất thần thỉnh thoảng nhìn người này người kia rồi cúi xuống ôm chặt cái bọc vải. Chị ru con, ru hời ru hỡi.

Hai ông bà cụ già đem theo nhiều bánh tét và mức. Họ cũng gìn giữ kín đáo, và đang ăn với nhau. Ông cụ lén đưa cho tôi một khoanh bánh tét. Tôi định từ chối thì Thái đã vội cầm lấy, cám ơn. Một miếng ăn lúc này còn hơn cả vàng bạc, châu báu. Nào vàng bạc châu báu có bỏ vào miệng nhai được cho đỡ cơn đói đâu! Vừa cắn một miếng bánh, tôi bỗng dựng người lại. Hình như có người nào trong đám đông đem theo được cái radio chạy pin. Họ vặn âm thanh nhỏ lắm nhưng tôi cũng ráng nghe lõm bõm. Ðài Phát thanh Huế lọt vào tay họ. Tin loan báo Sài Gòn đã thuộc quân giải phóng...

“Miền Nam đã thua. Giải phóng toàn quốc.”

Giọng một thanh niên trẻ. Tiếng nói phát ra từ chiếc radio biến mất. Một giọng khác:

“Cất đi. Trời ơi là trời. Khổ lắm, đừng nghe, đừng nghe...”

Tôi chợt nhớ là lúc soạn đồ đem đi, tiện tay tôi có bỏ vào túi vải một cái radio nhỏ xíu. Nhưng hiện nó nằm trong túi vải nào thì tôi không nhớ. Ðã đánh thắng toàn quốc. Miếng cơm trong miệng tôi nghẹn cứng lại.

Ðêm thứ hai ở nhà thờ không khí và quang cảnh đã gần quen thuộc hơn. Một vài ngọn đèn dầu tim lửa thật nhỏ và đuốc chỉ được đốt một ngọn, mà tới 9 giờ tối phải tắt. Cả đèn dầu nhỏ cũng phải tắt hết.

Ðêm nay, mọi người xì xào nói chuyện nhiều hơn. Thái kể cho tôi nghe về những điều đã thấy được trong ngày. Ngay dưới sàn nhà thờ, phía dưới có một phần hầm thấp. Ở dưới đó người ta chen chúc nhau để giành chút an toàn, nhưng bẩn thỉu và hôi hám lắm. Ngay ở phía trên, nhà nguyện và nhà giảng, trần cao, thoáng mà chúng tôi còn không chịu nổi hơi người ta. Trẻ con ỉa đái tùm lum, cũng đã nặng mùi lắm rồi. Trong đêm, có thêm mấy người đàn bà chuyển bụng đẻ, chúng tôi nghe thêm được vài tiếng khóc vào đời. Tiếng khóc con trẻ làm tôi nhớ tới mấy đứa con tôi. Lúc này chúng đang ở Sài Gòn. Theo tin tức phát thanh của họ thì Sài Gòn cũng đã mất. Chồng con tôi ra sao? Có chạy loạn? Có ly tán? Trái tim tôi có lúc như bị bóp nghẹn, không thở nổi.

Cũng có lúc quá mệt mỏi, tôi ngủ thiếp đi. Nhưng cơn ngủ quá ngắn. Tôi bị đánh thức dậy bằng một tiếng la hoảng hốt, thất thanh:

“Chết tôi. Chết tôi rồi. Bà con ơi!”

Nhiều tiếng đồ vật rơi loảng xoảng. Vài tiếng kêu rú theo. Giọng kêu lúc đầu lại lớn hơn, khủng khiếp hơn:

“Việt cộng tới. Việt cộng tới. Ám sát. Giết người. Chúng nó tới.”

“Ðâu? Ðâu? Trời đất ơi, Việt cộng.”

Người ta chồm dậy, nhảy xuống đất, bám chặt nhau. Hốt hoảng, lá ó, kêu gào....

“Cha ơi, cứu chúng con. Chúa ơi!”

Ngọn đuốc trên bệ cao được đốt lên, chiếu lung linh hình bóng cha Sở.

“Bà con yên lặng. Chuyện chi? Chuyện chi xẩy ra?”

“Dạ thưa cha...”

“Dạ nghe la... Dạ có người la... Việt cộng tới.”

“Ai la. Ở đâu?”

“Dạ thưa cha. Ở đây. Dạ ông ni nì. Ông la quá.”

Vài ngọn đèn nhỏ được đốt thêm. Mọi người nhìn về hướng có tiếng nói. Chẳng thấy gì ngoài những chiếc đầu cao thấp lố nhố. Cha Sở kêu:

“Ai vừa la đó. Ðứng dậy coi.”

Một người đàn ông bị đẩy đứng lên trên ghế. Ánh đuốc chiếu tới, một khuôn mặt còn thất thần, giọng lập cập:

“Dạ con, cha ơi. Con nằm mơ, dễ sợ quá.”

“Thằng cha mắc dịch.”

Nhiều tiếng nguyền rủa. Người đàn ông nói tiếp:

“Nằm mơ thấy Việt cộng...”

“Trời đất. Thấy Việt cộng mà làm như thấy ma quỷ.”

“Còn hơn nữa tề.”

Ai đó nói. Một giọng cáu kỉnh:

“Mả cha cái thằng vô duyên. Mả cha thằng nào đạp vào bụng ông muốn phòi mỡ.”

“Tui cũng bị đạp trúng mắt.”

“Tui nì. Tui bị chân đá vô mặt. Tổ cha thằng mô con mô, tao biết tao bẻ cẳng.”

Một giọng đàn bà:

“Cha ơi! Nó còn la nữa. Cha đuổi nó ra ngoài.”

“Cho nó ra ngoài để nó thấy Việt cộng, cha. Làm người ta hết hồn.”

Nhiều giọng phụ họa. Nhưng cha Sở chỉ bảo mọi người im lặng và nên nằm xuống ngủ tiếp để lấy sức vì chưa biết chuyện gì còn xẩy ra nữa. Mọi người nghe lời. Nhưng cha Sở vừa đi thì thằng cha ngủ mớ làm người ta sợ đái ra quần không biết thấm thía chuyện gì mà bỗng ré lên cười. Tiếng chửi rủa lại nổi lên. Người đàn ông im bặt. Bên ngoài lạnh lắm, làm quá dám cái đám đông kia khiêng hắn vứt ra ngoài mưa đêm.

Nhưng không ai ngủ yên được. Trời chưa tảng sáng dã nghe tiếng quát tháo giận dữ của cha Sở. Lại ngồi dậy, lại lắng nghe. Từ bệ đá, cha Sở và đám thanh niên trật tự đang lôi ra một cô một cậu. Một thanh niên chỉ vào mặt hai cô cậu, có lẽ họ đang run.

“Chưa biết sống chết ra răng, còn làm chuyện tồi bại.”

Mọi người chen nhau đứng cả trên ghế để nhìn cho rõ mặt cặp thanh niên nam nữ. Một giọng nói phát ra từ đám đông:

“Ðánh chết chúng nó đi.”

“Ðuổi ra ngoài.”

“Ðừng trả áo cho nó.”

Cha Sở lại phải dàn xếp, làm đám đông dịu lại và đưa cặp nam nữ xuống nhà ngang. Cha sợ để ở lại đây cặp nam nữ kia sẽ không yên với đám đông đang căng thẳng. Mà xuống nhà ngang cũng là một hình phạt quá nặng rồi, ở đó, họ phải ngồi chung với những xác chết, may ra thì còn được ở chung với những người bị thương.

Cả một xã hội bát nháo đang thu nhỏ lại trong khu vực Dòng Chúa Cứu thế. Có kẻ sinh, người chết, có ganh ghét, phẫn nộ, hằn học mà cũng có thương yêu. Trẻ sơ sinh được cho nằm trên căn gác nhỏ. Người nào bị thương, bệnh, chết được khiêng xuống phía sân sau, trong dãy nhà thấp. Sự chung đụng gây ra nhiều vụ cãi vã, kiện tụng, kể cả đánh lộn. Nhiều người chạy loạn đã cạn lương thực. Cha Sở phải lấy gạo dự trữ của nhà thờ phân phát. Dù đã có một số thanh niên tình nguyện xung vào đội trật tự, cũng không sao ngăn cản nổi người ta giành giựt, đánh nhau lỗ đầu chảy máu để tranh bát gạo, miếng thức ăn. Giọng cha Sở không còn thanh, lớn như trước mà khản đặc lại. Cha đã hò hét, can thiệp, lo lắng quá nhiều cho đám đông chạy vào nhà Dòng. Gạo chắc cũng không còn bao nhiêu để phát tiếp...

Có một người không hề để ý tới gạo, tới thức ăn. Không xếp hàng, chìa tay lĩnh gì hết. Ðó là chị đàn bà ôm cái bọc vải, ngồi yên lặng ở một góc, chăm chỉ ru đứa con ngủ. Cả mẹ không ăn, cả con không bú. Cha Sở đem tới cho chị một vắt cơm, chị ăn cầm chừng, hình như rứt rứt từng hột cơm bỏ vô miệng nhai sẽ đỡ bớt cho chị một chút ray rứt chứ không phải để mưu cầu sự sống? Riết rồi người ta cũng mặc kệ chị, không ai thèm chú ý.

Ngoài đường cũng không còn người chạy loạn. Cả thành phố như chìm ngủ trong mưa phùn và giá lạnh. Cha Sở đã đóng cửa nhà thờ, chừng này người đã thiếu không khí để thở.


Qua ngày thứ ba, mọi người đang có chút hy vọng là mọi chuyện sẽ khá hơn thì ngay lúc gần sáng, mọi người đang ngủ bị dựng cổ dậy vì tiếng súng. Nhiều người đang nằm trên băng ghế lăn đại xuống đất, bất kể đè lên trên người khác. Tiếng súng nhỏ, rồi súng lớn. Ðoàng. Ðùng. Ðùng. Nhà thờ rung lên.

Ánh chớp của bom đạn, của lửa. Và choang, ầm, choang. Vài tấm kiếng trêm vòm nhà thờ vỡ. Lúc này thì không đủ gan lì để nằm ráng trên băng ghế được nữa. Tôi cũng lăn hay té xuống giữa những hàng ghế. Người nằm phải lồm cồm ngồi dậy để khỏi phải chồng lên nhau. Thái đã kéo má tôi lọt vào giữa. Bom đạn bên ngoài càng ngày càng bắn rát, dữ dội. Chúng tôi cứ ngồi khít lên nhau, ôm chầm lấy nhau, cận kề cái chết cho tới sáng thì biết còn sống vì tiếng đạn thưa thớt dần rồi dứt.

Nghe ngóng, chờ đợi một lúc, tôi và Thái cùng vài người nữa bạo gan đi ra ngoài. Con đường dẫn ra bờ sông hôm nay đầy rác rưởi, dơ bẩn như một cánh tay của một tử thi đã rữa nát dưới mưa gió, còn muốn chuồi tới bến sông để rửa ráy. Nhiều ngôi nhà sập, nhiều nhà cửa, cây cối cháy rụi.

Ði vào một xóm nhỏ. Nhà cháy, nhà bay nóc, mất cửa. Vài xác chó xác mèo nằm trơ trong sân. Không có bóng người. Tôi lặng lẽ kéo Thái trở về nhà thờ. Có lẽ chỗ này là còn yên ổn, ít nhứt trong thời điểm này.

Khi chúng tôi trở về thì có một số người còn đi nữa. Họ tìm tòi trong những nhà bỏ trống ít gạo, ít bánh chưng bánh tét trên những bàn thờ còn nguyên. Họ cũng đem về xác vài con gà con vịt đã chết. Ba bốn người khiêng được xác một con heo. Họ đưa ra giếng, mượn đồ nhà bếp của nhà thờ, cạo lông, làm thịt. Bé cũng phụ làm heo, được chia phần. Thịt được cắt nhỏ, kho với muối. Nhà thờ chẳng còn gì ngoài muối.

Tiếng súng chỉ ngưng được một lúc rồi lại bắt đầu. Nhưng không dồn dập mà từng chặp, từng chặp, cho tới trưa. Cô em dâu của tôi cũng ra giếng lấy nước nấu một nồi cơm nhỏ. Nhưng khi đem vào, chúng tôi không dám bày ra mà dấu dưới gầm ghế, lâu lâu thò tay vắt một vắt nhỏ chia nhau ăn. Ðám trẻ con đói nhiều quá. Tôi đổi mấy vắt cơm lấy nửa đòn bánh tét của bà cụ “hàng xóm”. Không cầm lòng đặng, Thái cắt mỏng từng lát bánh tét chia cho lũ trẻ con, nhưng cũng không thấm đủ gì.

Buổi trưa tiếng súng bỗng nhiên im bặt. Trong mắt mọi người có hy vọng. Nhưng chút hy vọng đó tan biến như mây khói khi từng loạt đạn dấy lên. Ðạn bắn đâu gần lắm, như từ phía ruộng trước mặt, từ hai bên hông nhà thờ, từ phía sau. Nhà thờ rung lên và vòm kính trên nóc tiếp tục vỡ. Mỗi lần một tiếng nổ lớn, một tiếng kêu choang là kính rơi xuống như mưa đá. Má tôi lấy cái mền bung ra, trùm kín đầu con cháu, sợ miểng kính rơi trúng tét đầu. Nhưng Thái bị tới mấy mảnh kính cứa cổ tay, cứa vai, máu chảy thấm áo đỏ lòm. Thuốc thang không có, má tôi lấy mớ thuốc rê đem theo để ăn trầu rịt vào vết thương cho Thái. Cũng may em Thái khỏe mạnh, quen dãi dầu mưa nắng nên vết thương cũng chỉ làm đau rát chút đỉnh mà thôi.

Chừng hai tiếng đồng hồ sau, tiếng súng dồn dữ dội về phía sau nhà thờ, ở bên kia sông. Thái thì thầm cho tôi biết đó là loại súng A-ka của Liên Xô mà Việt Cộng thường dùng. Tiếng đạn A-ka sắc, ngọt, giết người cũng lẹ làng. Hai chị em tôi co quắp bíu chặt nhau. Tấm mền má tôi trùm đầu làm nghẹt thở quá. Nếu lúc đó tiếng súng không ngớt bớt, tôi không thò đầu ra khỏi, chắc cũng chết ngộp.

“Có vẻ yên hơn, chị. Ðể em ra ngoài.”

Thu cản:

“Ê Thái. Ðừng. Ðừng vội. Nghe hình như...Nghe đã tề...”

Phía bên ngoài cánh cửa nhà thờ, có nhiều tiếng ồn ào. Tiếng đập cửa, tiếng kêu cứu:

“Cha ơi. Cứu chúng con. Cứu chúng con...”

“Cứu người. Cứu người...”

“Ðừng mở. Chật quá rồi cha ơi.”

Cha Sở đang bế một đứa nhỏ bị thương vì miểng kính, nghe kêu, cha đưa đứa nhỏ cho một thanh niên trật tự đứng bên, mở cửa, chạy băng ra ngoài.

Người ta ở bên ngoài tràn vào như giòng nước lũ. Ðâu mà nhiều thế. Hết chỗ. Họ đứng sát vào nhau. Nhiều người bị thương vô tới là ngã lăn ra đất. Ðám đông cũ bị bắt buộc dồn cục lại, nén chặt lui phía sau. Cha sở lại phải hô hào, dàn xếp. Rồi đâu cũng vào đó. Cả cái bệ để cây đuốc, nay cũng có người leo lên nằm ngồi. Sát bệ đặt tượng Chúa và Thánh giá, con nít bò lổn ngổn.

“Khóa cửa lại. Hết chỗ chứa rồi.”

Ðám người cũ, đám người mới hỏi han nhau. Chỉ biết được là Việt cộng tới đông lắm. Bên kia sông bắn nhau dữ lắm. Nghe nói quân lính mình đã tới... Nghe nói đánh nhau ác liệt nhưng có lính mình và lính Mỹ, ai cũng mừng, đã có tiếng hoan hô reo vui.

Cha Sở lại đẩy cửa bước vào. Theo sau lưng cha có hai người lạ. Một nam một nữ, họ là người da trắng. Ðám đông lại xôn xao:

“Mỹ tề. Mỹ phải không?”

“Mỹ chi mà lùn tịt. Thằng Tây ni lùn tịt. Tây đó.”

Người đàn ông đứng tuổi quần áo sốc sếch, râu ria xồm xoàm như con đười ươi trong rừng chạy lạc về phố. Tay họ cầm cờ trắng có viết chữ “báo chí”. Cha Sở nói chuyện với họ bằng tiếng Pháp. Thì ra, đây là hai phóng viên của một tờ báo ngoại quốc. Người đàn ông còn có chút bình tĩnh, nhưng người nữ phóng viên thì trên mặt còn đầy nét sợ hãi. Mọi người bu tới coi. Con nít chui dưới chân người lớn, kêu réo với nhau:

“Bây ơi! Tới coi ông tây bà đầm.”

Bọn trẻ nít này đâu khác gì tôi hồi còn thơ ấu. Những người da trắng tới xứ sở Việt Nam, coi như là người rớt từ trên mặt trăng xuống. Tôi cũng có mặt trong đám con nít đi coi ông tây bà đầm. Nhưng ông tây bà đầm hồi đó oai hơn nhiều, đâu có nhếch nhác như hai người chạy loạn này. Cha Sở nói chuyện nhiều lắm. Một lúc sau người nữ phóng viên đã bớt sợ, cô ta đưa máy ảnh lên bấm lia lịa:

“Ê, coi nó chụp hình. Chụp hình.”

Con nít thích chí chui tới đứng dàn ngang. Nhiều người lớn che mặt.

“Báo chí đó. Nó đăng báo có cái mặt mình...”

Chụp đám đông. Chụp người bị thương. Chụp con nít. Người đàn bà có đôi mắt chưa hết thất thần chăm chăm vào ống ảnh. Những đứa con nít nhay nhay vú mẹ mãi mà không có sữa, ngó cái ống ảnh, nhả vú mẹ ra rồi khóc ré lên... Ống máy ảnh đưa về phía tôi. Thái đứng dậy dùng cả cái lưng che khuất, lớn giọng:

“Còn chụp với chiếc gì...”

Nó đưa tay ra dấu muốn đập bể cái máy ảnh. Cô nữ phóng viên cười muốn làm thân. Họ đi lên gác chụp tiếp mấy sản phụ và hài nhi rồi xuống nhà giảng, đưa máy ảnh bấm liên tiếp.

Cũng liên tiếp lúc đó có tiếng súng nổ. Mọi người lúc đó mới nhận ra nguy hiểm của sự có mặt hai người này. Việt cộng sắp tới đây rồi. Chúng thấy hai người da trắng sẽ nghĩ là Mỹ và sẽ ra tay tàn sát. Vậy là họ nhao nhao đòi cha Sở phải đuổi hai người này ra khỏi nhà thờ.

“Cha ơi. Ðuổi chúng đi.”

“Lấy máy ảnh của nó.”

“ Không cho chụp nữa. Ði đi.”

Cha Sở biết được sức mạnh của đám đông, nên đưa hai người ra khỏi khu nhà nguyện, kiếm một chỗ khác cho họ. Nhiều tiếng thở phào nhẹ nhõm.

“Nó đi rồi.”

“Chết tới nơi không lo, còn đưa máy hình bám lia bấm lịa...”

Tiếng nói chưa dứt thì một tiếng rú nổi lên. Chị đàn bà ôm cái bọc ngồi trong góc. Một đứa nhỏ đã nghịch kéo cái bọc vải của chị ta. Chắc nó nghĩ có đồ ăn trong đó. Chị giằng lại được cái bọc.

“Con ơi là con ơi!”

Chị rờ rẫm cái bọc:

“Con ơi, con có đau lắm không? Con đừng... Con đừng bỏ mạ... con ơi! Ngủ đi, ngủ đi mạ ru nì... Ầu ơ... Người ta đi có đôi có bạn, mạ đi một mình chạng vạng tới nửa đêm...”

Chị ta nói ra miệng câu gì cũng là thơ hết. Cái bọc gì trong tay chị ta vậy? Sao không rời khỏi tay? Nó là bọc quần áo, là con búp bê, là...?

Nhưng rõ ràng chị ta là người không còn tỉnh trí nữa.

Buổi chiều cha Sở trở lại. Cha bảo mọi người im lặng, giọng nghiêm trọng:

“Bà con đừng có chộn rộn. Tình hình không khá như mình tưởng mô. Có tin quân Mỹ kéo lên ở quốc lộ 1. Nhiều nơi đang đánh lớn.”

“Cha ơi, chừ chạy đi mô, cha?”

“Không chạy đi mô hết. Nhưng phải lo phòng bị, lúc nào cũng sẵn sàng. Bắt đầu từ bây giờ phải dọn chỗ lại sạch sẽ, thứ tự. Mình sẽ chia ra nhiều ô để ở, để săn sóc giúp đỡ nhau... Nghe tôi nói đây. Bà con lúc này phải thương xót nhau, đùm bọc nhau để cùng thoát hoạn nạn..”

Cha Sở nói là làm liền. Những hàng ghế được quây lại làm hàng rào từng khu. Mỗi khu gồm mười gia đình. Cha sở sẽ lấy kho gạo sau cùng phát vào ngày mai. Cha cũng kêu gọi thanh niên nam nữ, những người còn sức lực tổ chức đội trật tự, đội cứu thương. Chị đàn bà ôm cái bọc được đưa tới trong khu cùng gia đình tôi. Ai cũng còn gia đình, nhưng chị thì lẻ loi. Chị ngồi sát bên Thu. Mấy đêm rồi chị đâu có ngủ nghê gì nhưng sao chị không ngã gục? Chị ta đã điên? Cũng không sao, chị ta điên và hiền lành.

Nhờ tài tổ chức của cha Sở mà chúng tôi có chỗ riêng, thoáng hơn. Có thể đi lui đi tới chứ không bị bó chân bó cẳng như trước. Mỗi ngày chỗ ăn ở được phát chổi để quét dọn, trẻ con được đưa vào kỷ luật cũng bớt phá phách nghịch ngợm. Tuy mùi nước tiểu trẻ con không thể tẩy được nhưng mọi người cũng đã quen, không khó chịu tới muốn ói mửa.

Có lúc tôi rủ Thái đi xuống nhà ngang. Nhưng gặp nhiều xác chết mới đặt ở đây vì chỗ chứa xác đã kín đầy. Trong mấy khu chia nhau ở bên trong nhà thờ, cũng có vài người bỏ mạng vì vết thương, vì bệnh mà không có thuốc.

Buổi tối lại có người bệnh nặng ngay sát khu bên cạnh. Một người đàn ông nằm quằn quại dưới đất. Tôi chồm qua dãy ghế nhìn. Mới hồi chiều tôi thấy ông ta còn tỉnh táo, còn ngồi ăn mấy miếng bánh mì khô mà. Bây giờ ông ta trợn mắt, chỉ thấy tròng trắng, lăn lộn, sùi bọt mép, nhưng khuôn mặt biến đổi bất chừng, khi như kéo một nụ cười, khi như kéo một cái mếu.

“Chị ơi, ông nớ mầm răng rứa?”. Thái hỏi.

“Khi không ba hắn nổi điên. Ai mà biết.”

“Ðiên khi mô. Hồi chiều em thấy ông ngồi ăn bánh mì khô mà.”

“Thì vậy. Hắn chạy tới đây với thằng con trai bị thương. Hồi chiều thằng con chết rồi, xác còn để ngoài nớ tề...”

Một người kể:

“Hắn nói nhà hắn giàu, có nhà lầu xe hơi. Vợ hắn chết ngay bữa đầu. Hắn ôm thằng con chạy. Mấy bữa ni hắn tiếc của cứ than hoài. Chừ con hắn chết luôn nên hắn nổi điên.”

“Tội nghiệp quá hỉ?”

“Mạng người không tiếc, còn tiếc của cải. Ðiên chi mà ngu rứa trời.”

Người đàn ông đang lăn lộn, bỗng kêu lên:

“Lạy mấy ông đồng chí....Dạ...không phải, dạ giải phóng. Xin đừng đốt nhà, đừng đốt xe...Lửa. Lửa dễ sợ quá… Lạy các đồng chí... tha cho cái nhà, cái nhà...”

“Thằng cha kỳ khôi chưa. Răng không xin cho vợ, cho con mà cứ cái xe, cái nhà...Thiệt là quả báo chi đây...”

“Lấy khăn bịt miệng thằng cha lại. Tụi nó vô mà nghe được là chết hết đó...”

Thái kéo tôi về chỗ:

“Chị ngủ sớm đi. Em kiếm được chiếc chiếu, dấu dưới ni nì...”

Thái lôi chiếc chiếu dưới gầm ghế ra trải. Má tôi yên lòng ngả lưng. Mấy đêm rồi, bà cứ dựa lưng vào tường, vào ghế mà ngủ gà ngủ gật. Mắt má tôi sâu hoắm và có quầng thâm thật đậm.

Người đàn ông đã hết chịu đựng, điên luôn rồi. Ðêm, ông ta cứ la như cháy nhà. Nhưng mọi người quá mệt mỏi, cũng đã quen dần không thấy còn chi lạ để coi. May mà ai cũng chợp mắt được một lúc, vì gần sáng, tiếng súng lại nổ inh tai. Tôi muốn nhỏm dậy, má đè đầu tôi xuống:

“Súng đó tề. Ðừng trồi đầu lên nó trúng.”

Tôi nghe rõ rồi. Tiếng đại bác ở đâu câu tới rất gần. Lâu lâu điểm một vài tràng súng nhỏ. Rồi có tiếng xe chạy ngoài đường. Thái nằm sát tai xuống sàn nhà, nghe ngóng:

“Tiếng xe thiết giáp đó chị. A... có xe tăng. Xe tăng nữa...”

Mặt đất rung chuyển mỗi khi có đoàn xe chạy qua. Mỗi lần có tiếng xe là có tiếng súng nổ liên hồi. Chúng tôi ôm chặt lấy nhau. Má tôi không ngớt cầu nguyện....

Buổi tối hôm trước tôi chỉ ăn có một lát cơm vắt nhỏ nên sáng hôm sau, bụng đã đói cồn cào. Bé và Thái đi lĩnh gạo. Vợ Bé và Thu lo đi nấu cơm. Phải nấu cho sớm, chớ ai biết lúc nào bom đạn tới. Thái còn đùa được:

“Mấy bà nấu cơm, nếu có đánh nhau chạy cũng mang theo nồi cơm mà chạy nghe.”


Cố mà đùa để kiếm vui, nhưng ai mà cười nổi. Nấu được một nồi cơm cũng không phải dễ. Có gạo nhưng kiếm củi ở đâu. Có mấy ngày mà củi trong nhà thờ hết sạch. Người ta bẻ cả cành khô, vơ cả lá rụng, bẻ cả thân cây còn tươi, nhưng với chừng đó người, mọi thứ trong nhà thờ không cung cấp nổi. Thái tính đi ra ngoài xóm kiếm củi thì tiếng súng bên kia sông bắt đầu nổ lớn. Mọi người vội bỏ của chạy lấy người vào trốn bên trong nhà thờ. Chờ ngớt bớt tiếng súng, Thái liều lĩnh đi ra xóm kiếm được mớ củi. Vợ Bé và Thu lại dè dặt ra ngoài nấu cơm. Ðạn lúc này đã bắn vào phía nhà thờ. Má tôi lo lắng:

“Ra kêu mấy đứa vô. Còn nấu nướng chi nữa.”

Rồi nồi cơm cũng chín. Vợ Bé như đã phải chạy một mạch với nồi cơm vào bên trong, thở hổn hển:

“Dễ sợ quá. Từ bếp chạy vô đây mà đạn nó rượt sau lưng nè.”

Nó nhỏ giọng:

“Bác. Con nghe nói bên An Cựu nhà con, nhà Bác họ tràn vô chiếm ở hết rồi. Mà bác ơi, nghe nói Việt cộng cũng ở đầy xung quanh chỗ ni rồi.”

“Trời ơi là trời!”

Tôi biết má tôi đang lo lắng về nhà cửa. Bàn thờ ba tôi vừa bày xong những ngày cuối năm còn mới toanh, nằm lạnh lẽo không nhang không khói. Lòng người vợ hay chồng già dù cách biệt âm dương vẫn nặng nghĩa tình với hương khói phụng thờ. Thấy má tôi sụt sùi, Thái ôm vai:

“Bác. Thôi ăn miếng cơm cho chắc bụng đã bác ơi. Con cũng sốt ruột quá nì bác. Mạ con, em con đang ở dưới Bao Vinh không biết ra răng.”

Rồi nó tiếp:

“Ðể con coi yên yên con về dưới nớ.”

Má tôi mếu máo:

“Chưa yên mô con ơi. Súng đạn mô có con mắt con nờ. Ðừng bỏ bác nghe con.”

Thái ứa nước mắt:

“Con mô biết chuyện tọa họa như ri. Con mà có súng con nhứt định chạy ra ngoài đường, tìm lính mình để cùng đánh nhau với tụi nó.”

Bé kêu nhỏ:

“Thái. Mi đừng nói ẩu. Ở đây... không phải là không có... Bụi tre có lỗ tai nghe, lỡ miệng là khổ...”

“Thôi ăn đi.”

Cũng không ăn được. Ðúng lúc đó lại ầm ầm tiếng súng. Kính lại rơi vỡ loảng xoảng. Mọi người nằm sát xuống đất. Thái dúi tôi vào dưới hàng ghế rồi đưa cả cái lưng đỡ cho má tôi. Nhưng may mắn, chỉ một lần kính vỡ, chưa kịp làm ai bị thương thì tiếng súng đã hướng về phía khác. Tôi ngạc nhiên khi nhận ra có cả tiếng súng như từ trong sân, sau dãy hàng rào nhà thờ bắn ra nữa. Vậy là họ đã tới nơi!

Chúng tôi chịu đựng sự kinh hoàng như vậy chừng nửa tiếng đồng hồ. Chỉ nửa tiếng thôi sao? Nó dài như cả thế kỷ, nó làm tất cả mạch máu căng kéo ra, bao lần muốn đứt. Rồi cũng còn sống!

Chúng tôi đã mở mắt, đã nhìn thấy nhau. Người đàn ông điên cơn sợ đã làm bớt điên, ngồi co ro. Bà cụ già dựa vào người chồng già hồng hộc thở. Coi chị đàn bà ôm cái bọc vải kìa. Chị nép sát vào tôi từ lúc nào vậy? Một mùi hôi thối xông lên làm tôi muốn nôn ọe. Cái mùi hôi này sao bây giờ tôi mới nhận ra. Cái mùi hôi thối kinh hoàng quá. Nó là mùi thịt rữa, mùi chuột chết, mùi mồ hôi... mùi mắm thúi? Không phải, hình như tất cả các thứ mùi đó hỗn hợp lại! Không phải chỉ riêng tôi, mà má tôi, mà Thái, mà mọi người cũng vừa nhận ra cái mùi nồng nặc đó rồi. Thái chồm người muốn kéo cái bọc. Người đàn bà né tránh đưa cái bọc sang bên. Có lẽ vì mạnh tay quá, cái bọc tung ra, trong cái bọc thò ra một bàn chân trẻ con nhỏ xíu, nứt nẻ, bầy nhầy. Một dây nước vàng sền sệt rơi xuống sàn thành một vũng nhỏ. Mùi thối xông lên nồng nặc hơn, khủng khiếp hơn. Tôi hoa cả mắt, choáng váng muốn xỉu. Bỗng nhiên tôi la lớn một tiếng. Tôi cũng không hiểu vì sao tôi la.

Người đàn bà cũng la lên một tiếng lớn hơn, ngay sau tiếng la của tôi. Tiếng la của bà ta giống tiếng kêu của một con thú bị giết. Tiếng gầm rú của con thú tuyệt vọng cùng với tiếng súng nổi lên bên ngoài làm tôi tỉnh người. Mặc tiếng súng. Mọi người đổ dồn về người đàn bà, về mùi hôi thối, về cái xác chết trẻ con đã quá lâu. Một người đàn ông tiến tới trước mặt bà ta:

“Ðưa đây.”

Con thú đã hết sức hết hơi, đã thôi không vật vã mà yếu xìu:

“Ðừng. Ðừng mấy ông ơi. Con tui. Nó còn sống, còn thở. Con tui mà... Con ơi... ngủ đi con, ngủ đi con...”

Người đàn bà cố đưa đưa cái bọc, nhưng nhấc tay không lên. Tiếng hát cũng đứt quãng vì tiếng thở gấp gáp. Bà ra đã đói quá.

“Ðưa đây.”

Một người đàn ông đưa tay, chưa kịp đụng tới thì cái bọc tụt mép vải. Một vật rơi lăn theo tấm vải bung, mép vải vẫn còn giữ chặt trong tay chị. Xác một hài nhi rơi xuống nền nhà. Ðứa bé đã chết từ lâu, không còn hình hài nguyên vẹn mà chỉ là một đống thịt đang rữa nát, rịn nước mủ.

Những người xung quanh kêu rú lên. Thu lùi lại ôm lấy mặt. Má tôi quay đi. Nhưng chị đàn bà thì khác, như vừa sắp ngã vật xuống vì đói, vì hết hơi sức, chị bỗng nhào tới xác đứa bé. Chị dùng cả tấm thân chị chồm lên thân hình đứa trẻ. Ðôi mắt lạc thần bỗng như rực ánh, chị như chồm hổm như sẵn sàng vồ, cắn xé nếu ai đụng đến đứa con đã chết của chị.

“Lấy đứa nhỏ đi. Thúi quá.”

Người ta kéo chị ra. Chị vùng vằng, nhe răng. Nhưng chị có bao sức nữa. Miệng thì thào:

“Ðừng mà. Con tui. Con của tui mà.”

Người đàn bà bị kéo ra một góc và nằm bẹp dí. Nhưng bà ta đưa cặp mắt nhìn mọi người như van xin, lạy lục, rồi bà lết tới, lết tới. Bàn tay của bà đã đụng được bàn chân của xác đứa con. Rồi chị ôm chặt cái chân nhỏ bé nhầy nhụa, hôi hám, chị rên lên:

“Con đây rồi. Con mô có bỏ mạ.”

Cái miệng chị méo xẹo. Khóc hay cười? Chị nhìn lên nóc nhà thờ, đôi mắt lại đờ đẫn, thất thần, lạc điệu, như không nhìn thấy gì nữa hết, mà đã lọt ra ngoài vòm trời bên ngoài.

“Kéo mụ ta ra đi. Trời ơi, coi tề...”

“Con ơi. Mạ ôm con nì. Răng mà con dơ quá rứa. Ðể mẹ chùi cho con...”

Cái miệng của bà đưa tới ngón chân nhỏ xíu, lở lói. Cái lưỡi chị đàn bà đưa ra, liếm láp ngón chân, bàn chân. Tôi muốn xỉu. Thái đỡ tôi:

“Chị đừng nhìn nữa. Chị đi ra chỗ khác đi.”

Tôi không cất bước được. Sự thống khổ quá mức của người đàn bà cũng làm tê liệt thần kinh tôi.

“Ði kêu cha. Báo cho cha biết.”

“Kéo con mụ ra. Mấy chuyện ni không cần cha phải lo. Mấy anh em trật tự mô hết rồi?”

Hai người giữ chặt chị đàn bà. Mấy thanh niên lấy một cái áo cũ bọc kín xác đứa bé. Giọng chị đàn bà òng ọc như con heo bị cắt tiết.

“Con ơi, con không bỏ mạ mà. Con ơi, con khóc đi, khóc lớn đi cho mạ dỗ... Khóc đi, khóc đi con ơi! Trả lại cho tui, trả lại con tui cho tui... trả lại... trả lại...”

Ðứa nhỏ đã được đem đi. Người ta không giữ chị nữa. Vừa được thả ra là chị bò, chị lết, chị khóc, chị kêu. Cha Sở lại tới:

“Ðóng chặt cửa. Không ai được ra ngoài. Ðang đánh nhau dữ lắm.”

Lúc đó cái điệp khúc “trả con tui lại cho tui, trả lại cho tui, trả lại con tui” mới lùi xa trong đầu tôi, và tôi như choàng tỉnh vì tiếng súng bao quanh bốn bề. Người đàn bà lết theo dưới chân cha Sở mà không ai để ý. Khi cha ra ngoài, đóng cửa lại thì chị cũng lết ra ngoài luôn rồi.

Ra đến ngoài như có không khí, thở được nhiều, cơn đói bị đẩy lui bớt hay sao mà giọng chị gào thét lại thi đua được với bom đạn. Chị chạy đi đâu? Chị ra sao rồi? Chỉ thoáng một cái, tiếng của chị hoàn toàn im bặt trong tiếng súng càng lúc càng hỗn loạn.

Tôi vẫn còn bị chôn chân ở chỗ đứng đó. Ðứa bé không còn. Người mẹ khốn khổ cũng không còn? Nước mắt tôi chảy ràn rụa trên mặt tự lúc nào. Tôi lại nghe vang trong đầu điệp khúc đòi con của người mẹ. Bom đạn nuốt bà mất rồi sao? Nuốt giùm bà đi, vì bà đã gửi sự sống theo đứa con rồi. Chúc mẹ con sớm gặp nhau.

Người ta quên chị đàn bà ngay sau đó. Bây giờ không chỉ súng nhỏ nổ rền mà cả súng lớn cũng tới tấp nữa. Ðại bác. Bom chơm. B 40. Aka. Mọi tiếng súng dữ dằn nhất dùng để hủy diệt con người đang dồn tới thành phố Huế nhỏ bé, hiền lành, đang đổ xô vào khu nhà thờ mọi người dùng cầu nguyện. Choang. Choang. Mấy miếng kính màu trên vòm nóc nhà thờ còn sót lại, vỡ tan, rơi xuống làm một trận mưa kính bên trong.

“Ở đây nguy quá rồi, bà con ơi!”

Ai đó la thất thanh. Cảnh hỗn loạn tìm nơi trốn núp. Tiếng xô đẩy, tiếng chửi rủa nhau. Có nhiều người chui xuống dưới lớp người khác đang nằm đè nhau để núp trốn. Có người kéo một người khác dưới ghế nguyện để lấy chỗ cho mình. Nhưng đâu cũng không yên nữa. Cả khu nhà thờ rung rinh, trêm vòm rực lửa, cả gạch, ngói, bụi khói như một tấm lưới dày chụp xuống.

“Chạy. Chạy bà con ơi.”

“Mạ ơi, con bị rồi...”

“Anh ơi, con nó...”

“Trời ơi, chồng tui... Bà con ơi, cứu, cứu...”

Tiếng kêu khóc nổi lên bốn phía. Người ta xô đẩy nhau, níu kéo nhau. Dồn góc này, chui nhủi góc kia. Ầm. Ầm. Kêu la. Nhắm mắt. Chết thật. Chết giả. Sợ tới chết. Cây thánh giá gỗ từ trên tường bay xuống. Cây thánh giá đã có máu của chúa, không thấm thêm máu của ai. Nhưng kính, gạch, đá, bắn tứ tung, gây nhiều thương tích. Một người đàn ông dựa đầu vào cây thánh giá đã nằm yên dưới nền nhà, cái đầu bể nát vì gạch đá nghẹo sang một bên. Anh ta mở đôi mắt an nhiên nhìn mọi người.

Tôi có bị thương ở đâu trên người không? Má tôi, Thái, các em tôi có đứa nào bị thương không? Trên quần áo mọi người đầy máu, máu của mình, máu của người. Một tia máu bắn cả vào mặt tôi, vào mắt tôi làm tôi phải nhắm mắt lại. Tôi bị rơi vào bóng tối và như thấy tử thần đang giang tay ra, đòi dắt đi.

“Chị bị rồi, Thái ơi!”

“Không phải chị mô. Máu của người ta.”

Thái xé vạt áo sơ mi để lau mặt cho tôi.

“Con ơi. Con mô rồi?”

“Má, má mô? Mô rồi?”

Tôi quờ quạng. Tay tôi đụng cổ má tôi. Da bà còn mềm, còn ấm. Thái vẫn cố quệt lau tiếp trên mặt tôi. Dù hai mí mắt rít chịt, tôi cũng cố mở, và bám áo Thái để bước theo.

Không biết hai cánh cửa gỗ dày chắc chắn có khóa chặt hay không, mà chỉ cần đoàn người vừa ùa tới là đã bị đẩy tung, rệu rạo. Hình như không cần phải bước, thoáng cái chúng tôi đã bị đẩy ra tới sân. Nhưng ra tới sân, chúng tôi lại lạc vào giữa cơn bom đạn. Bầu trời đầy những lằn sáng như sấm sét, bốn phía tiếng rít của đạn, trên đầu tiếng dội của bom. Nhiều người ngã xuống. Tiếng kêu khóc như ri.

“Trở lại. Trở lại.”

Xô đẩy, chen chúc, đạp lên nhau để trở vào bên trong còn vất vả, khó nhọc hơn lúc đẩy cánh cửa gỗ mà ra ngoài. Chúng tôi cứ bị xô dạt lui xô dạt tới, và nhà thờ ba phía cửa mở toang hoác, bên trong trống hốc in cả một khoảng trời.

Chúng tôi tìm được một khoảng tường. Nhưng chưa định hồn, đám người đã ùn tới, lại xô, lại đẩy, uýnh lộn, giằng kéo. Chúng tôi lại phải chạy, nhắm mắt nhắm mũi mà chạy. Khi mở mắt ra, chúng tôi lại trở vào được bên trong nhà thờ. Bây giờ cũng chỉ còn mấy mảnh tường sụp đổ, một nửa mái nhà thờ đã mất tiêu. Thấy không an toàn, nhiều người lại kéo nhau chạy ra, họ tràn xuống nhà ngang, nhà bếp, phía sau vườn, bên giếng nước. Ở đâu chỉ cần có một vật chắn là có người ẩn núp. Không còn ai có thể cứu ai, lo cho ai lúc này nữa.

“Ở đây là chết. Bác, mình phải chạy.”

“Còn chạy đi mô chừ con ơi!”

Má tôi rên lên rồi òa khóc. Một tiếng rú. Một người ngã. Một tiếng kêu cha kêu mẹ. Một người nữa bị thương. Cứ vậy, bên này bên kia, góc này góc nọ. Ầm. Một tiếng nổ ngay trên đầu chúng tôi. Không biết chúng tôi đã chạy hay bị ném ra ngoài. Chỉ biết cắm đầu chạy giữa các lằn đạn xé trời, đổ rạp cây cối, xớt ngọt con người.

Cũng có lúc súng đạn biết mệt, biết nghỉ ngơi. Tôi ngồi phệt xuống. Ụt ụt ụt. Tôi ngồi lên một con heo bị thương và con heo đau đớn chửi lại tôi, hất tôi xuống đất. Lúc đó tôi mới có chút thời gian coi lại mình. Quần áo tôi ướt đẫm máu đỏ. Má tôi, Thái và mấy đứa em áo quần cũng nhuộm máu đỏ nhiều hơn đất cát. Nhưng may mắn chưa ai bị vết thương nào đáng kể. Thái bị thêm vài mảnh kiếng cắt ở cổ, ở cánh tay. Còn tôi, một ngón chân bị bị sướt, dập. Nhưng chút đau rát đâu có thấm thía gì với cảnh chết chóc đau đớn xung quanh. Tôi đã mất luôn đôi dép lúc nào không biết. Chẳng ai còn một đôi dép trong chân, kể cả má tôi. Nhưng Thái vẫn ôm ghì bọc gạo và bình nước. Má tôi vẫn còn cái bọc quần áo.

“Còn bọc quần áo của chị và của em đâu? Há? Ðâu?”

Tôi đã thả rơi ở đâu. Lúc nào. Nhớ gì nổi. Thây kệ. Không được. Thái chạy trở lại và tìm ra.

Súng đạn nghỉ lấy hơi xong rồi lại bắt đầu lẻ tẻ lên tiếng. Mọi người bàn nhau, cứ chạy ra phía bờ sông. Còn nguồn tin Mỹ và lính Cộng hòa đã ở bên kia cầu. Bên kia cầu mới là hy vọng. Thì cứ đi tới.

Quả là phía bên kia sông có yên tĩnh hơn. Súng nổ ran nhiều ở phía ruộng. Có nhiều đoàn người di tản đi ngược đi xuôi, loạn xạ vì họ chẳng biết nơi nào yên ổn, nơi nào không yên! Biết hỏi han cũng không được tin tức gì, mà người ta cũng không có thì giờ kể cả cái gật đầu hay lắc đầu nữa.

“Thôi kệ con ơi, phó cái mạng cho trời đất.”

“Dạ. Rứa thì mình cứ theo người ta mà chạy.”

Gia đình chú tôi có nhiều con cháu. Mấy đứa con nít thật quá tội nghiệp. Chúng nó vừa đói, vừa mệt, lại còn bị kéo lê đi, mặc kệ chân đụng đá, cây cành giữa đường. Chạy qua mấy cái lăng cổ, cung An Ðịnh đã thấp thoáng hiện ra giữa một vườn rộng cây cối rậm rịt. Cung An Ðịnh hiện nay là nơi ở của Bà Từ Cung. Trong sân cũng đã lố nhố người. Chúng tôi theo vào và cũng vội vàng tìm chỗ tránh đạn. Bên trong đã khá đông, chúng tôi bị dồn vào phía sau, sát bể nước lớn. Ở đây, tiếng súng xa hơn. Có vẻ vững tâm, Thái sắp đặt đồ đạc và chỗ nghỉ ngơi. Vợ Bé lấy mấy miếng cơm vắt đưa cho má tôi và bầy con nít trước. Lúc này tôi mới để ý không thấy hai ông bà cụ già ngồi sát cạnh trong nhà thờ đâu. Lúc chạy, họ bám theo áo chúng tôi mà. Thấy tôi cứ thắc mắc lo cho hai ông bà cụ, má tôi nói:

“Ai có số phần đó con ơi. Phần mình còn chưa biết tới đây ra răng nữa là... Ăn đi một miếng. Thái, con cũng ăn luôn. Mấy đứa nữa, ăn luôn. Chớ lỡ ra lại chạy....”

“Con thấy ở đây yên. Lại gần sông, bên kia nghe nói Mỹ lính mình đã tới...”

“Thôi, ăn đi. Hơi đâu mà đoán.”

Má tôi nói vậy mà đúng. Chỉ mươi phút sau thôi, tiếng súng tiến lại gần và bao vây quanh khu cung An Ðịnh. Thái đẩy mọi người nằm xuống. Chúng tôi nằm sát vào nhau, như thân này có thể chắn đạn cho thân kia. Không ai dám ngóc đầu lên, vì một người mới nhỏm dậy kéo đứa con, ông ta bị ngay một viên đạn xẹt vào, bứt luôn một lỗ tai. Cũng may nó tránh xuyên qua cái đầu. Chết hụt.

Chúng tôi lại rơi ngay vào trung tâm của trận đánh rồi. Lần này, cái chết như đã đến nhặt từng người. Súng lớn, súng nhỏ, từ bốn phía lấy cung An Ðịnh làm điểm nhắm. Ầm. Ầm. Hai tiếng nổ làm chúng tôi bay dội tứ tung. Cái bể chứa nước vỡ. Nước tràn ướt cả phòng. Phía trước đã trống rỗng.

“Chạy”.

Nhiều tiếng hô. Nhưng nhiều người không chạy được, nằm đó. Họ đã chết. Chúng tôi theo Thái từ phòng dưới chạy lên phòng trên. Nhưng cánh cửa ngăn phòng đã đóng lại. Day. Ðấm. Ðạp. Cánh cửa cũng tung ra. Tiếng đạn bên ngoài càng dồn dập hơn, làm cho con người ta thu nhỏ lại và chừng đó người thêm vào cũng đủ chỗ để trốn nấp.

Không còn đâu an toàn nữa. Lại ầm, ầm. Căn nhà rung lên, giựt loạn. Ầm. Ầm. Một nửa mái nhà đổ xuống. Rào rào. Ðá gạch. Tiếng kêu. Tiếng khóc. Thái cố đẩy chúng tôi vào tuốt phía dưới một bộ trường kỷ. Cát bụi làm chúng tôi không mở mắt ra được. Nhưng tôi biết má tôi vẫn nắm chặt tay tôi. Giọng má tôi bên tai: “Con ơi. Con. Con còn đó không con.”

Bầu trời âm u bên ngoài sáng rực. Từng lằn chớp lóe lên. Mỗi lằn chớp chiếu cho tôi một hình ảnh. Mấy đứa con tôi. Tôi chắc không trở về để thấy chúng nó nữa. Chồng con tôi đã mua vé sẵn, ngày mùng hai Tết sẽ về Huế. Ngày mùng Hai qua rồi, bây giờ là mùng mấy? Tôi còn lòng dạ nào mà tính toán tháng với ngày. Ở Sài gòn có như ở đây không? Chồng tôi. Các con tôi. Trời đất ơi! Tôi không gặp được nữa!

Nhưng lúc này là phút tận cùng rồi. Phút giữa sống và chết là một lằn chỉ nhỏ. Sự sợ hãi cũng đông cứng rồi. Tôi bình tĩnh lạ lùng. Tôi bịt tai mà vẫn nghe tiếng đạn rít. Lúc dồn dập phía này. Lúc thưa thớt phía kia. Lúc sao dồn hết vào mặt tiền. Lúc chạy vòng phía sau. Nhưng tòa nhà đã như cái răng sắp rụng, đong đưa, lung lay và chờ giờ bứt ra...

“Không xong rồi. Cõng ngài. Cõng ngài mau lên...”

“Chạy... theo”.

Thu la lên. Nhưng Thái dìm đầu Thu xuống.

“Muốn bay luôn cái đầu há.”

“Phò ngài chạy mau. Phía này. Không, phía này...”

“Trời ơi. Ðạp lên đầu tui.”

“Cha mạ ơi, trúng chỗ bị thương của tui. Ui chao, ui chao...”

Tôi hé mắt. Bóng người chạy thấp thoáng trong bụi mù. Một bà già mặc áo gấm đeo trên lưng một người mà tôi không nhận ra đàn ông hay đàn bà. Nhưng cái người cõng ngài mạnh lắm, xô, đẩy, đạp, gạt... và biến mất rất nhanh. Cùng lúc đó, Thái cũng băng người nhảy vọt ra phía cửa sổ. Em Thái cũng bỏ chúng tôi?

“Cầm cái cơi trầu của ngài...”

“Cái mền... cái mền...”

Vài người lật đật chạy theo. Rồi hết. Một giọng càu nhàu:

“Bà Từ Cung đó. Sướng quá hí. Giờ ni mà còn ngài với nghiếc.”

Không ai hưởng ứng vì tiếng súng lại vang rền. Không phải một phía mà trở lại bốn phía. Sẽ không còn một dịp may nào nữa! Các con ơi! Thôi mẹ từ giã, mẹ vĩnh biệt các con!

Tôi không thắc mắc gì về việc em Thái nhảy ra ngoài cửa sổ nữa. Tôi cũng đã hết hy vọng chạy thoát như vừa rồi chạy ra khỏi nhà thờ. Sẽ chết ở đây. Trong lúc gần như mê đi, tôi bỗng có cảm tưởng trên má của mình ấm áp. Nước ấm? Làm gì có. Máu đó thôi. Một đám lông xù xì áp vào người tôi, chắn phía trước ngực tôi. Một cái lưỡi chó liếm vào mặt tôi và máu, ở người tôi hay người nó, mà có mùi ngai ngái, tanh ấm, dễ chịu. Máu từ ngoài áo thấm vô hay từ bên trong chảy ra. Con chó cứ dụi vào tôi, đẩy sát tôi vào người má tôi. Má tôi ra sao rồi? Má có ngất đi không?

Sau một đêm hò hét, phẫn nộ, rực lửa, bóng tối cũng tan dần. Trời vừa hé sáng thì những tiếng súng cũng im bặt.

Mặt trời như đã nổ tan tành từ bao giờ. Ánh sáng của ngày hắt hiu, buồn thảm. Buổi sáng nay thức dậy không nghe tiếng gà gáy, không có tiếng chim kêu, không có tiếng chuông chùa và tiếng chuông nhà thờ, cả tiếng gà vịt cũng không nữa.

Bầu trời như muốn ứa nước. Những khu vườn bỗng tiêu điều u ám lạ, cỏ đẫm sương mai bị dẫm nát tan tành, vung vãi những giẻ rách, mảnh đạn và vết máu. Vết máu kéo lê mặt đường, nối dài từ khu vườn này sang khu vườn khác. Một vài vũng máu còn đọng trước sân, bên bể cạn, cạnh gốc mai vàng ngập ngừng e ngại vì màu sắc quá tươi tắn.

Cùng với ánh sáng nhạt nhẽo vừa ló dạng, trên các nẻo đường, bỗng xuất hiện vô số người, đàn ông có đàn bà có. Đàn ông mặc quần áo ka ki, quần dài quần ngắn có, đàn bà mặc bà ba đen, tóc bím nhưng không thả lỏng mà cột lên cao, gọn ghẽ. Họ cầm súng, mặt mày nặng chình chịch nhìn nhau. Những tốp khác gác ở các đầu đường, trước nhiều nhà, hoặc nằm ngồi la liệt ở các khu vườn. Có rất nhiều xác chết và người bị thương ở đầu dốc, hai ba xác nằm sõng soài, ở giữa đường vài xác nằm sấp. Bên cạnh một tốp gác ở đầu cầu có vài xác cụt đầu và những tay, những khúc chân vương vãi. Bên vệ đường, một số người bị thương đang nằm rên la, một số đàn ông đàn bà đang khiêng từng người vào một khu vườn gần đó. Khu vườn bao bọc một ngôi nhà lớn, nhưng như không có dấu vết gì của người sống trong đó nữa.

Một thiếu nữ có đôi mắt sắc, đeo súng A.K. đi ra giữa đường, cô ta đưa tay lên miệng nói lớn:

“Các đồng chí, hãy tải thương bớt vào vườn này, còn bao nhiêu xác chết dồn lại một nơi.”

Cô ta lập đi lập lại hai ba lần. Tiếng cô là tiếng động đầu tiên trong buổi sáng. Giọng nói lớn của cô như rung vỡ nhiều cánh cửa và tràn vào bên trong những căn nhà đang đóng kín. Tiếng của cô gái cũng làm những tiếng rên la cất to hơn.

Lớp người bị thương được khiêng đi rất lâu. Một toán người khác từ dưới dốc đi lên, một toán khác từ trên dốc núi đi xuống, người thiếu nữ lúc nãy hỏi, giọng vẫn rổn rảng:

“Sao, báo cáo tình hình các nơi, các đồng chí!”

“Hoàn toàn xong hết. Địch câm họng từ lúc bốn giờ sáng.”

“Tôi sẽ phụ trách về những người bị thương. Số đồng chí hy sinh giao cho đồng chí X10.”

“Trên đó khoảng gần 100 đồng chí bị thương.”

“Đem lên phía chùa trên dốc.”

“Phía dưới cầu có khoảng trên năm chục người bị thương, số hy sinh nhiều hơn.”

“Đem vào vườn, sẽ tìm địa điểm di tản sau.”

“Có tin nữa.”

“G?”

“B3 truyền lệnh các đồng chí chia nhau vào các nhà, đừng để đồng bào bỏ chạy gây phiền phức. Ngay sáng hôm nay phải vãn hồi trật tự.”

Nhiều tiếng nói: Tuân lệnh. Những tốp người chia nhau đi. Phút chốc đoàn người thưa hẳn, chỉ còn vài tốp gác ở ngả đường. Một anh lính trẻ vác khẩu A.K. đưa tay quệt trán, mặc dù lúc đó trán anh ta không có giọt mồ hôi nào. Đợi cho các đồng chí bạn đi khuất, anh rẽ vào căn nhà đằng trước mặt. Con ngõ dẫn vào nhà khá xa. Khu vườn âm u bao kín ngôi nhà ngói cổ kính. Anh lính trẻ ngập ngừng rồi đưa tay gõ cửa. Nhưng gõ một hồi không thấy gì, anh bỏ đi ra. Quái, rõ ràng nhà này có người ở mà. Anh lẩm bẩm. Anh đi qua khoảng sân rộng, đứng lại bên chiếc bể cạn cạnh gốc mai vàng. Nhà nào cũng có cái bể cạn, hòn non bộ và cây mai vàng y hệt nhau. Anh nhìn kỹ trên mặt đất. Có nhiều vết máu nối nhau chạy dài ra một góc vườn nơi phía bụi tre. Anh giơ một cánh tay lên rung nhẹ một cành mai. Anh nhìn vào ngôi nhà một lúc, rồi anh thở nhẹ bỏ đi ra, lại dựa lưng vào cột trụ đầu cổng hờm súng đứng gác.

Một lát sau, trong nhà có tiếng chân nhẹ đi ra cửa. Bên trong căn nhà còn tối mờ. Bóng một người đàn ông thận trọng dò từng bước một. Anh ta tiến đến nơi cái sập gỗ. Một xác người đang nằm đắp chiếu ở đó. Anh giở chiếu lên gọi nhỏ:

“Ông nội, ông nội.”

Một người đàn bà nữa đi ra đứng sau lưng người đàn ông. Người đàn ông đưa tay vuốt mắt ông già đang mở trừng trừng, rồi nói với người đàn bà:

“Ông đi rồi.”

Người đàn bà bước lùi một bước rồi òa khóc. Nhưng rồi chợt nhớ ra, bà đưa tay tự bịt kín miệng mình lại, hai mắt bà ta cũng mở trừng trừng nhìn người đàn ông, vẻ hốt hoảng mê sảng. Người đàn ông đưa tay lên quệt nước mắt rồi cũng bịt chặt miệng mình lại. Cả hai đi vào căn phòng nhỏ phía trong. Có tiếng thì thầm trong bóng tối nhạt mờ, nhiều đầu người nằm ngồi lổm chổm:

“Răng con, ngoài yên chưa?”

“Suỵt. Hỏi dỏ hỏ, không nghe nó vừa gõ cửa đó răng!”

“Con, ôn con ra răng rồi?”

Người đàn ông kéo người đàn bà ngồi xuống:

“Mình ngồi xuống đi, đừng có đứng nữa.”

Người đàn ông cũng ngồi xuống cạnh vợ. Giọng anh ta nghẹn ngào:

“Mạ, ông đi rồi.”

Nhiều tiếng khóc muốn bật ra rồi gượng lại kịp. Tiếng thút thít của người lớn rồi trẻ con tấm tức. Người đàn ông lại đứng dậy:

“Thôi đừng khóc. Họ nghe họ vô chừ. Mạ, mạ đừng có khóc.”

Nhưng nói xong người đàn ông cũng nấc lên một tiếng nhỏ. Anh ta đi ra ngoài nhà, anh dòm qua khe cửa. Một tốp đàn ông đàn bà đang đi vào trong sân. Anh ta nhè nhẹ trở đi vô. Căn nhà hoàn toàn im lặng.

Tiếng gõ cửa nổi lên ban đầu còn thưa, rồi trở nên cấp bách. Có giọng đàn ông người miệt ngoài cất lên:

“Mở cửa, mở cửa, quân giải phóng đến.”

Bên trong căn phòng nhỏ, người đàn bà cầm chặt lấy tay người đàn ông. Bàn tay của người mẹ bịt chặt miệng đứa cháu, sợ nó la khóc. Tiếng đập cửa bên ngoài mạnh hơn:

“Mở cửa. Mở cửa không chúng tôi bắn.”

Có tiếng người đàn ông trẻ tuổi:

“Hồi nãy tôi gõ mãi mà không có ai. Chắc họ chạy hết rồi.”

“Vô lý, đêm mà chạy đi đâu. Chưa ai chạy khỏi nhà hết.”

Rồi một giọng khác dõng dạc:

“Tôi đếm từ một tới ba mà không mở cửa là tôi bắn. Có ai trong nhà không? Một…”

Người đàn bà xô người đàn ông ra cửa, chị lẩy bẩy thế nào mà gây một tiếng động nhỏ. Bên ngoài có tiếng cười gằn rồi tiếng hô tiếp:

“Hai.”

Người đàn ông đã ra tới cửa, anh giơ hai tay lên khỏi đầu:

“Dạ lạy các ông, lạy các ông tui mở, dạ để tui mở…”

“À, biết ngay mà. Mở cửa.”

Người đàn ông lẩy bẩy một lúc mới mở được cánh cửa. Toán người ùa vào nhà. Họ có khoảng chừng mười người, kẻ vác súng trường người xách bị rết. Người đàn ông lớn tuổi nhất, có đôi mắt thật to nhưng vẻ mặt xanh xao, nhìn một lượt khắp nhà:

“Các đồng chí canh gác cửa ngõ.”

Vài người đi vào các phía cửa sổ. Người đàn ông chủ nhà mặt tái xanh tay chân run cầm cập nói không ra tiếng:

“Lạy các ông chúng tôi là người lương thiện.”

“Hừ, tại sao gọi cửa hoài không mở hả. Mở đường cho ngụy chạy phải không?”

“Lạy các ông, con sợ quá.”

“Không có các ông nào ở đây hết. Chúng tôi là quân giải phóng.”

“Dạ.”

“Có bao nhiêu người trong nhà gọi ra hết đi. Mau.”

Rồi ông quay đi:

“Các đồng chí. Mở cửa sổ ra.”

Ánh sáng lùa vào căn phòng, soi rõ khuôn mặt của ông già nằm trên sập gụ. Chiếc chiếu đã được mở ra từ trước, tấm chăn đắp trên người ông loang đầy máu, đã sệt khô. Người đàn ông lớn tuổi bước tới một bước nhìn vào mặt người chết, rồi la ồ lên một tiếng:

“Ông chết rồi hả!”

“Dạ.”

“Bị tự bao giờ?”

“Dạ thưa ông… ông giải phóng, dạ bị tự lúc một giờ sáng, máu ra nhiều quá.”

“Các đồng chí cho đem xác ra ngoài vườn giùm đi.”

Mấy người đàn ông định xúm tới. Người đàn bà run lập cập:

“Lạy các ông, dạ lạy các ông giải phóng, dạ để chúng con xin được chôn cất.”

“Để đó.”

Mấy người đang đi đến tấm sập gụ dừng lại. Người đàn ông lừ mắt vào phòng trong:

“Gọi hết cả nhà ra đây. Đi ra hết. Ai còn ở trong chúng tôi bắn.”

Mấy đứa trẻ con ra trước rồi một người đàn bà đứng tuổi, mấy cô con gái, một chị đàn bà bế đứa con nhỏ. Mặt người nào người đó tái xanh. Người đàn ông lớn tuổi nạt:

“Đứng cả vào một góc nhà.”

Cả nhà líu ríu đứng về phía sập gụ, bên cạnh xác chết của ông già. Có tiếng động nhỏ phía trong. Người đàn ông lớn tuổi lắng tai nghe. Một nữ cán bộ dợm tới một bước, chĩa súng vào căn phòng nhỏ:

“Ai trong đó xin mời ra.”

Bên trong vẫn im như tờ. Nhưng người đàn ông lớn tuổi đã lừ mắt ra hiệu.

Hai ba người khác bước tới. Cánh cửa phía bên buồng trong bỗng bật mở sáng. Một bóng người lao ra ngoài. Một tiếng chóc khô, lạnh, vang lên. Có tiếng kêu ở bên ngoài cửa sổ và tiếng rú của mấy người đàn bà. Người đàn ông đứng tuổi lại cười gằn:

“Coi lục soát kỹ nhà này.”

“Tuân lệnh.”

Mọi người chia nhau đi lục soát, người đàn bà già và thiếu phụ bồng con ôm mặt khóc nức nở. Mấy cô gái mặt tái xanh, cắt không còn hột máu. Người đàn ông ôm chặt một đứa nhỏ đang đu lên người ông. Đám người lục soát một hồi trở ra, một người nói:

“Không có gì nữa cả.”

Người đàn ông đứng tuổi hất hàm:

“Ra coi tên đó chết chưa!”

“Dạ, đã xem, chết rồi.”

Nhiều tiếng khóc cùng bật lên một lúc. Mấy cô nữ cán bộ xúm lại, vẻ hung hăng lúc đầu biến mất. Một cô làm thân với thiếu phụ:

“Chị đừng buồn, đừng sợ. Chúng tôi chỉ xử những người có tội, còn những người dân thì chúng tôi có bổn phận phải bảo vệ.”

Thiếu phụ chùi nước mắt:

“Nó là em tui mà. Nó có tội tình chi mô.”

“Tại anh ấy bỏ chạy. Trong hoàn cảnh chúng tôi, chúng tôi phải tự vệ.”

Người đàn ông đứng tuổi nhìn một lượt những khuôn mặt đang run rẩy, tái xanh. Giọng hắn chầm chậm, đều đều:

“Mẹ và chị đừng sợ. Chúng tôi đến đây là để giải phóng cho đồng bào…”

Người thiếu phụ đang khóc bỗng nín bặt, ngơ ngác. Mấy đứa con gái nép sát vào nhau. Có tiếng chân người chạy từ ngoài cổng vào. Hai giải phóng quân khác đi vào. Họ có quàng khăn xanh ở cổ, người đàn ông đứng tuổi hỏi:

“Có chuyện gì vậy?”

Một người nói nho nhỏ vào tai người đàn ông lớn tuổi. Hắn gật gật đầu, quay lại nói với các nữ cán bộ và mấy người giải phóng:

“Các đồng chí ở lại đây. Còn tôi với đồng chí Thu đi lên xóm Chùa.”

Tiếng chân đi ra cổng. Một nữ cán bộ giơ tay:

“Các đồng chí, chúng ta ở lại đây, sửa soạn cơm nước rồi phụ bạn tải thương, tiếp vận.”

“Đồng chí Xuân nói phải. Lát nữa chắc có tiếp vận tới.”

Người nữ cán bộ mang tên Xuân mỉm cười, vỗ vai thiếu phụ thân mật nói:

“Bây giờ để tôi nhờ các đồng chí phụ với ông nhà lo chôn hai xác chết. Thưa chị, đây là…”

Xuân chỉ vào xác chết ông già. Người mẹ vội vã trả lời thay con dâu:

“Dạ thưa cô, đây là ông nội của tụi nó.”

Người nữ cán bộ xua tay:

“Chết, mẹ giải phóng, con xin mẹ đừng gọi con là cô. Con xin được làm con mẹ như các chị các anh ở đây.”

Cô nói xong quay lại đồng bạn:

“Bây giờ nhờ đồng chí Tiến, đồng chí Bình lo chôn giùm hai xác người, cụ và anh đang ở ngoài vườn.”

Rồi đổi khuôn mặt buồn rầu, người nữ cán bộ tên Xuân quay lại phía gia chủ:

“Thật đáng tiếc, trường hợp ngoài ý muốn, xin chia buồn với mẹ và các anh các chị.”

Người đàn ông quay mặt đi giấu hai giọt lệ đang lăn xuống. Xác chết của ông già và người thanh niên được bó trong hai chiếc chiếu rồi đem vùi nông ở góc vườn. Một lát sau, mấy cô nữ cán bộ làm thân với mấy cô gái, các người lính giải phóng thì chia nhau gác góc vườn và lo đi liên lạc, Xuân nói với người đàn bà già:

“Thưa mẹ, nhà ta còn gạo không?”

Bà già thật thà:

“Gạo còn hai bao. Tết mà cô. Còn cả bánh tét và mứt nữa cô.”

“Ấy, xin mẹ đừng gọi con bằng cô nữa. Mẹ gọi con là con như gọi các anh các chị đây.”

Cô lại cười, nói tiếp:

“Có lẽ vài ba bữa nữa bộ đội mới tiếp lương thực tới. Mẹ cho chúng con vay hai tạ gạo. Vài ba hôm lấy xong thành phố Huế, Bác Hồ vào thăm, con sẽ thưa trường hợp của mẹ. Bây giờ xin mẹ ký vào cuốn sổ vàng của Bác Hồ.”

Cô quay lại gọi:

“Đồng chí Nữ đâu, đem sổ ra đây.”

Người nữ cán bộ tên Nữ là một cô gái mập mạp, nhưng nước da vẫn tái xanh, cô ta nhanh nhẩu rút trong áo ra một cuốn tập, chìa tới bên bà già:

“Thưa mẹ đây, xin mẹ ký.”

Người đàn bà già run run:

“Dạ tui có biết chữ chi mô mà ký.”

Cô gái lại cười, hỏi mấy cô gái Huế đang đứng dồn với nhau một góc.

“Thôi các chị biên tên rồi ký giùm. À mà để tôi biên tên cho cũng được…”

“Dạ thưa mẹ, mẹ tên chi. Dạ xong rồi. Xin chị ký.”

Cô gái nhỏ run run viết một chữ ký nguệch ngoạc lên trang giấy. Nữ đưa cuốn sổ cho Xuân. Người đàn bà lặng lẽ chùi nước mắt. Mấy cô gái vẫn đứng dồn một góc, nắm chặt tay nhau, trong lúc cô nữ cán bộ tên Xuân cười:

“Trưa nay chúng ta ăn mừng chiến thắng.”

Những mảnh mặt trời vỡ vụn đang dần dần tụ lại, vẫn dật dờ lẩn khuất bên trên bầu trời đầy mây mù và gió lạnh.

Những đốm máu cùng sương vương trên cỏ đã khô để lại những vết tím bầm. Trong những khu vườn nhiều dấu đất mới. Tất cả những người bị thương đều được khiêng lên một ngôi chùa và các nữ cứu thương đang trổ tài băng bó. Vẻ vui tươi buổi sáng biến mất trên khuôn mặt họ; những đồng chí giải phóng đi đi lại lại gác các đầu đường hoặc chia nhau tràn vào các nhà dân.

Nơi ngã ba, trong một quán nhỏ bỏ trống, mấy người đàn ông bị thương nhẹ đang ngồi rờ rịt vết thương. Anh lính trẻ tên Thu đang bồng súng đứng gác ở góc đường. Cạnh đám cỏ anh ngồi, một vũng máu của ai đã khô, mấy con ruồi xanh bay vật vờ, thỉnh thoảng vài con chờn vờn trước mũi anh, muốn bám vào mặt anh, anh đưa tay xua với dáng điệu hết sức lơ đãng.

Một vài nhà, cửa mở toang, người ta thấy các anh giải phóng, các cô cán bộ đi vào. Thỉnh thoảng có một vài đứa nhỏ chạy ra sân, tức thì có một người lớn chạy ra bế bổng đứa bé lên hốt hoảng chạy vào nhà, mất hút. Không khí hoàn toàn yên tĩnh. Vừa mới đêm qua, tiếng súng xé màn trời, rung đổ nhà cửa, bây giờ tất cả sự ồn ào đó đã lẩn mất cùng bóng đêm, để lại một mặt trời vỡ với những kinh hoàng còn bám chặt trên mặt đất đầy máu, trên những cành cây gãy đổ, trên những ngọn lá xanh rụng đầy vườn.

Tất cả mọi nhà, mọi người đều ngồi chụm vào một đám. Họ e dè nhìn những anh lính miền Bắc mà họ được phép gọi là quân giải phóng, đi lui đi tới, nét mặt đôi khi phấn khởi đôi khi nghiêm nghị bí ẩn. Họ không dám trả lời một câu hỏi nào của đám người lạ mặt.

Dân trong xóm cũng ngạc nhiên không ít khi thấy vài người láng giềng mới hôm qua còn chúc tết nhau, sáng nay đã thấy họ cầm súng trong tay, cũng quấn khăn xanh khăn đỏ nơi cổ và nhìn họ bằng ánh mắt đe dọa, kiêu ngạo. Những người này công khai đi thăm hàng xóm. Một ông thợ lò rèn mới tối qua say rượu lè nhè chửi nhau với mấy cô gánh nước ngoài giếng, nay cũng xách súng đi thăm từng nhà. Gặp ai anh cũng nở nụ cười thật tươi, huênh hoang nói:

“Đồng bào yên chí đi, bà con yên chí đi. Vài ba hôm nữa cụ Hồ vô, tha hồ mà liên hoan.”

“Bác không biết đó chớ. Tui theo quân giải phóng lâu rồi. Tui nằm vùng mà.”

Mọi người nhìn anh ta với khuôn mặt xanh lè. Ai cũng sợ, thường ngày anh chỉ là thợ rèn hiền lành, chiều chiều say rượu hay nói bậy, gây gổ với trẻ con, với các cô ở đi gánh nước. Nhưng biết đâu anh không chuốc oán mua hờn với nhiều người trong xóm. Mấy đứa con trai con của một bà bán thịt heo ở chợ cũng nô nức xách súng theo giải phóng.

Một ông già ăn mày thường ngày ngồi trước mấy quán nước, hôm nay mặt mày cũng rạng rỡ hẳn, ông ta đi khắp các nhà tuyên truyền ầm ĩ:

“Quân giải phóng tới rồi nghe, rồi đây mình sướng lắm. Tui nói thiệt chớ ai làm cái chi ở đây mà tui không biết.”

Câu nói như một lời đe dọa, người ta đưa mắt nhìn nhau, vẻ lo lắng buồn rầu không thể nào che dấu được nữa.

Đến khoảng trưa thì quân giải phóng đến thúc mọi người ra hết ở ngoài sân. Họ kêu gọi những thanh niên đi tải đạn, những thanh nữ đi tải thương. Mười lăm tuổi trở lên là phải đi hết, chỉ các bà mẹ mà họ gọi là mẹ giải phóng, các sản phụ, các bà mang thai mà họ gọi là chị giải phóng, thì ở nhà giúp đỡ các anh giải phóng cơm nước. Một số người bị thương chịu không nổi đau đớn đã trút hơi thở. Nhưng quân giải phóng không đem chôn trong vườn nữa, họ chở đi theo với đoàn bị thương lên miệt trên. Đó là những con đường dẫn lên Tây Thiên, lên dòng Thiên An, lên các lăng tẩm. Giữa trưa, những ngôi nhà buồn tẻ im lặng cũng có hơi khói, dấu hiệu của buổi cơm.

Nhiều tiếng khóc bật lên thảm thiết. Trong nhiều ngôi nhà cũng có nhiều người dân chết vì vết thương không đủ thuốc thang băng bó. Người lính trẻ tuổi đang gác ở ngã ba lắng tai nghe rồi châm một điếu thuốc hút. Mấy người trong quán hỏi vọng ra:

“Ai khóc ở đâu vậy?”

“Trong mấy nhà kia kìa.”

“Chắc có người chết!”

“Dân mà, quân mình chở đi hết rồi.”

Anh ta lại nhìn vào một ngôi nhà nằm khuất trong một vườn cây, hỏi:

“Biết đây là gì không?”

“Nhà thờ cụ Phan đó.”

“Một vị anh hùng, một người cách mạng hả?”

“Ừ.”

Người trong quán hỏi tiếp:

“Lấy xong mấy đồn chưa?”

“Chưa có tin gì hết.”

Người lính trẻ lại im lặng. Tiếng khóc trong nhiều căn nhà nổi lên, anh ta châm một điếu thuốc nữa rồi cau mày. Anh ngập ngừng rồi mạnh dạn đi vào một nhà gần nhất.

Đó là một ngôi nhà tranh nằm ngay mặt đường gần ngã ba nơi anh lính đứng gác. Anh ghé cửa nhìn vào, bên trong ngôi nhà, giữa bộ ván gỗ, một xác chết nằm ngửa, cả một gia đình bu quanh kêu khóc. Một bà già, một người đàn bà bế đứa con và hai đứa trẻ đang xúm quanh xác chết: Con ơi là con ơi, anh ơi là anh ơi. Ba ơi là ba, ba ơi. Tiếng người mẹ, người vợ, tiếng những đứa con thơ làm não ruột người nghe. Anh lính Bắc Việt tần ngần đưa tay đập nhẹ cửa.

Cánh cửa không đóng, anh chỉ mới đưa tay gõ đã tự động đẩy ra. Luôn đà anh đi thẳng vào nhà. Hai người đàn bà hốt hoảng nhìn ra, mấy đứa trẻ con nín khóc. Anh đi tới gần nhìn xác chết, không phải một mà là hai xác chết. Phía trong xác của người đàn ông còn xác một đứa trẻ khoảng lên ba, mặt mày tím bầm và còn dính đầy máu. Người đàn bà già chen tới trước mặt anh như che chở cho mấy xác chết, đôi mắt bà nhìn người lính giải phóng với vẻ van nài cầu khẩn:

“Ông ơi, chết hết rồi, không còn ai nữa mà bắt đi.”

Bà chỉ vào người đàn bà đang bế đứa nhỏ:

“Con nó một nách ba đứa con dại, ông tha cho mẹ con tui…”

Người đàn bà già nói xong bật khóc, cô con dâu và mấy đứa nhỏ lại khóc theo. Người lính nhìn quanh gian nhà, đồ đạc thật nghèo nàn, ở giữa nhà kê bộ ngựa gõ, bên chái trên là bộ bàn ghế, đằng sau bộ bàn ghế là một bàn thờ nhỏ, phía bên trái kê chiếc giường tre. Trên bàn thờ còn nguyên mấy đòn bánh tét, mấy đĩa mứt bánh. Trên chiếc bàn gỗ phủ mảnh vải ny lông hoa hòe còn chiếc bình bông cắm một cành mai vàng. Mấy cái tách, mấy cái ly úp trên một cái khay bằng nhôm. Anh dịu giọng hỏi bà già:

“Nhà này của mẹ?”

“Dạ, còn đây là con cháu tui.”

Bà chỉ cả người chết lẫn người sống. Người lính Bắc Việt mở cái khăn quàng cổ của mình đắp lên mặt người đàn ông, rồi rút khăn mùi xoa lau bớt máu dính đặc trên mặt đứa bé. Anh kéo cái chăn đắp kín mặt mày thằng nhỏ. Vừa lúc đó có tiếng động dưới bếp, tiếng đập cửa rồi một khuôn mặt đàn bà đầu rối bù ló lên:

“Bà Bổng ơi, có chút dầu mô cho tui một chút. Có chút thuốc đỏ cho tui một chút. Nó sắp chết rồi bà Bổng ơi.”

Người đàn bà lật đật đi lên nhà, thấy hai xác chết nằm sõng sượt trên ván gỗ, bà ta lùi lại:

“Ối trời ơi, mần răng ri nì. Mần răng ri nì trời.”

Bà đưa mắt nhìn khắp mặt mọi người, đến khi chạm phải anh lính giải phóng. Bà đưa tay lên miệng, khuôn mặt đã tái xanh bây giờ xám ngoét.

Bà già xô vai chị đàn bà:

“Chị Trùm đi về đi. Đừng có chạy qua chạy lại nữa.”

Người đàn bà tên Trùm run lẩy bẩy:

“Bà Bổng làm ơn làm phước cho tui xin chút thuốc rịt vết thương cho con Bê, máu ra nhiều quá, nó xỉu rồi.”

“Con Bê há? Nó bị thương?”

“Nó bị thương hồi gần sáng. Trời đất quỷ thần ôi, khổ cho gia đình tui, hồi trước tới chừ ăn ở có răng mô mà trời bắt tan tành như ri rứa trời.”

Rồi nhìn hai xác chết, bà gượng lại:

“Trời đất hỡi, còn thằng Tanh với thằng cu em răng mà ra thân thể ri nì trời!”
Nghe tiếng than của người hàng xóm, người vợ bật khóc nấc lên, bà già bế lấy đứa cháu trên tay con dâu, cũng mếu máo:

“Thôi con ơi, đi ra mà nấu chén cơm, đặt bát nhang lên cho tụi nó, răng mà khổ ri trời, nhang tàn khói lạnh…”

“Ai bắn ai giết nó đó?”

“Biết mô mà lần, chị Trùm ơi, chỉ biết là con mình, cháu mình chết.”

Chị Trùm nhìn người lính giải phóng và chợt nhớ là mình vừa nói một câu hớ có thể nguy hiểm, chị nín thinh. Nhưng người lính vẫn lơ đãng nhìn về phía bàn thờ. Những chân nhang đã tàn, hai ngọn nến cháy gần lụi được thổi tắt từ lúc nào. Một lát, thấy người đàn bà lật đật đi xuống bếp, anh nói theo:

“Có ai bị thương đem qua bên chùa, quân cứu thương băng bó cho.”

“Có, tui đã đem qua rồi, họ nói thuốc chưa đủ cho quân giải phóng.”

Chị đàn bà đã khuất sau bếp. Tiếng chân đi vòng ra phía hẻm… Người lính giải phóng nhìn xác chết một lần nữa rồi nói với bà già:

“Thôi mẹ, mẹ đừng khóc nữa, phải có người hy sinh cho chúng ta chiến thắng.”

Người đàn bà già không hiểu. Người vợ đưa tay quệt nước mắt:

“Trời ơi là trời, mạ con tui biết sống với ai ri nì trời.”

Có tiếng súng nổ, chỉ một tiếng một rồi nín hẳn. Anh lính giải phóng chạy ra ngã ba nhìn ngơ ngác. Một anh lính giải phóng đang gác trước một cửa nhà cách chừng mười thước giơ tay chỉ vào một bụi cây bên đường. Người lính trẻ nhìn theo một thanh niên đang cố bò ra mặt đường, anh ta đã trúng đạn, máu lết từng vệt dài trên mặt đất. Người lính trẻ chạy lại. Bàn tay người thanh niên đưa ra muốn được nâng đỡ nhưng anh cũng không còn đủ sức nữa, cánh tay rơi bịch xuống đất, miệng anh mấp máy một hai câu gì đó rồi anh nằm lật ngửa, bất động. Người lính giải phóng đứng sững lại. Tiếng người bạn đằng xa hỏi:

“Chết rồi hả?”

Người lính trẻ gật đầu. Anh ta đưa tay lên cổ như muốn sờ vào chiếc khăn, anh ta đụng vào cổ áo và cầm chặt lại. Phía đằng sau lưng có hai chị nữ cán bộ đi tới, thấy anh đang đứng như trời trồng, họ cười phá ra:

“Đồng chí Thu làm gì đứng đó. Chỗ anh đứng gác đằng ngã ba kia mà. Thôi ráng gác đi, có lẽ tối nay bộ đội mình rút lên phía núi.”

Một cô nhìn xác chết:

“Sao vậy? Ai bắn đó? Đồng chí hả?”

“Không.”

Người bạn đứng đằng kia la lớn:

“Nó muốn chạy trốn, thấy nó lui cui sau bụi cây, tôi nổ súng đó.”

Một cô nhìn xác chết, cười khinh bỉ:

“Thứ này béo tốt dữ, ăn bơ sữa của Mỹ đây mà.”

Người lính trẻ đưa hai bàn tay của anh ra nhìn, anh đi trở lại chỗ gác của mình. Trong một căn nhà khác lại có tiếng kêu khóc:

“Cứu tôi với, bớ làng nước ơi, con tui, con tui…”

Chắc lại có một người nữa vừa mới chết. Mấy cái đầu thò ra:

“Đằng nhà đó có chuyện gì vậy?”

“Người chết.”

“Mấy người?’

Anh đưa hai ngón tay làm dấu, rồi chợt nhớ ra, anh lật đật đưa thêm một ngón nữa. Trong quán có tiếng nói lớn:

“Vào đây ăn bánh chưng. Bánh chưng Huế đây. Đồng chí nào ra thay dùm đồng chí Thu.”

Anh lính trẻ lắc đầu nói:

“Thôi khỏi.”

Có tiếng chân chạy, phía xác chết đang nằm tênh hênh bên đường có hai ba người chạy tới, toàn đàn bà và con nít:

“Con ôi là con ôi, đi ra mần chi cho họ bắn chết con ôi.” Giọng người mẹ kêu la thảm thiết. Anh lính giải phóng đi tới hỏi:

“Con bà?”

“Dạ, con tui.”

“Tại sao không ở nhà mà đi ra đường làm gì giờ này?”

“Con em gái nó bị thương, nó đi kiếm đọt lá chuối về rịt.”

“Thế à!”

Người lính đi về chỗ. Mấy người đàn bà, mấy đứa con nít xúm lại ôm xác người thanh niên đi khuất vào một ngõ nhỏ. Người bạn đứng gác đằng kia bước lại gần phía anh lính tên Thu:

“Đồng chí cần phải đề cao cảnh giác. Cấp trên ra lệnh không được lân la nói chuyện bừa bãi, tụi nó đều là tay sai Mỹ ngụy hết.”

Cả hai người đều trở lại vị trí cũ. Phía dưới cầu, một đoàn người đi lên, họ đang tải thương. Mấy cô gái Huế còn nhỏ mặt mũi xanh lè đằng sau là mấy anh giải phóng và mấy cô nữ cán bộ. Họ đi thật nhanh, mặt lầm lỳ. Các cô gái Huế hiện rõ vẻ sợ hãi và mệt đừ, những người nằm trên băng ca máu me đầy mình. Anh lính trẻ đi ra phía đường nhìn từng khuôn mặt người bị thương đi qua. Đến người cuối cùng anh ta níu cáng lại:

“Mịch.”

Người thanh niên ở trên băng ca bằng vải trắng mở đôi mắt lờ đờ nhìn mặt người gọi. Người lính tên Thu cúi xuống:

“Mày bị rồi.”

Người bị thương nhếch môi đau đớn:

“Chắc tao không sống nổi. Thu có về Bắc được nhớ cho thầy me tao biết.”

Anh ra dấu cho bạn tháo cái giây bạc đeo ở cổ, thều thào:

“Nhớ đưa cho đẻ tôi. Thu.”

Thu vội buông tay bạn. Cô nữ cán bộ trong đội cứu thương đã lên tiếng gọi hai cô gái Huế ỳ ạch khiêng chiếc băng ca lật đật đi lên. Người bị thương cố nhướng mắt nhìn bạn và cố đưa bàn tay lên vẫy mà không còn đủ sức nữa.

Anh lính tên Thu sững sờ nhìn bạn bị khiêng đi xa dần. Tay anh còn cầm chặt sợi dây bằng bạc. Mịch. Anh gọi lớn. Nhưng chiếc băng ca đã khiêng đi xa, còn lại một tay, anh đưa tay dụi mắt mình mà như là vuốt mắt cho bạn. Phía dưới cầu lại một tốp khác đi lên, họ cũng tải thương. Anh vẫn cầm chặt sợi dây bạc trong tay, sững sờ nhìn từng chiếc băng ca khiêng qua mặt mình. Nhưng anh không nhìn từng người bị thương nữa.

Ngang qua mũi súng của anh, mấy cô gái Huế càng bước mau, như sợ vô tình một viên đạn có thể bay ra ghim vào người mình. Anh ta để cho mũi súng chúc xuống đất. Trong một cánh cửa sổ từ một ngôi nhà phía ngã ba, nằm trong một khu đất rộng và trong cây cối, anh ta bắt gặp một đôi mắt thập thò nhìn. Anh không dám nhìn lại, sợ đôi mắt đó sẽ biến đi. Đó là đôi mắt của một cô gái nhỏ khoảng mười lăm mười sáu tuổi. Phía sau lưng cô gái có một bàn tay chộp lấy vai áo:

“Đừng có nhìn mà.”

Một người đàn bà khoảng ba mươi tuổi kéo tuột cô gái vào, giọng thì thầm:

“Đừng có ngó. Tụi nó vừa bắn chết một người gần ngã ba a tề.”

Cô gái rụt đầu… le lưỡi:

“Chị, có một tên Việt cộng đẹp trai ghê đi chị. Nó gác ở ngã ba đó tề.”

Người đàn bà lôi tuột cô em nhỏ vào trong mắng:

“Nói tào lao. Đi vô.”

Cô gái nhỏ đi vào. Người đàn bà bế xốc đứa bé gái đang đứng ở cửa buồng, nói vọng vào trong:

“Mệ, từ rạng sáng tới chừ chở nhiều xác chết, nhiều người bị thương quá mệ ơi.”

Tiếng người đàn bà già run run:

“Nhỏ nhỏ cái miệng, vô trong ni mà nói.”

Cả nhà xúm vào buồng. Thiếu phụ nói nhỏ vào tai bà già:

“Chắc họ sắp rút lên trên tê hết rồi.”

“Tao cũng mong rứa.”

“Hồi hôm họ chết nhiều rứa thê mệ.”

“Chắc sáng quân đội mình đã lên rồi, chắc họ chuẩn bị rút lui rồi đó hỉ?”

“Chắc rứa.”

“Răng ôn mi chưa thấy lên?”

“Kẹt dưới đó rồi.”

Cô gái lại bỏ đi ra ngoài. Bên trong người đàn bà nói giọng thiệt nhỏ:

“Đừng cho thằng Hợi nó xuống. Chút nữa mệ lấy cơm vắt lên cho nó ăn không nó xỉu.”

“Khi hồi có mấy tên đi vô nhà, cứ ngó lên trần, tao sợ bắt chết.”

Bên ngoài, nơi cô gái nhỏ nhìn ra, anh lính Bắc Việt còn đang đứng nhìn theo mấy cô nữ cán bộ tập xe đạp, đẩy xe Honda. Các cô bím tóc, quần xắn đến quá đầu gối.

Cô gái nhỏ nhìn hai cô đẩy theo một cô ngồi trên xe tuy có hai người giữ hai bên mà chiếc ghi đông vẫn quẹo qua quẹo lại.

Mấy cô cười đùa thiệt vui nhưng anh lính trẻ không cười. Mặt anh lầm lầm lì lì nhìn xuống con dốc đang có mấy người đàn bà chạy ra đường kêu cứu:

“Cứu con tui với, bớ làng nước ơi. Cứu chồng tui cứu cha tui.”

Mấy cô nữ cán bộ lướt qua mặt anh, cười cười nói nói:

“Trong này nhiều xe quá, thắng lợi rồi mình có xe đi.”

Một cô nói lớn:

“Đồng chí Thu tích cực quá hỉ!”

Cô ta nhại giọng Huế rất khó nghe. Anh lính trẻ cau mày. Anh liếc vô trong căn nhà trước mặt. Cô gái nhỏ vội thụt đầu vào. Không hiểu bực tức hay buồn bã chuyện gì, anh ta đưa súng lên nhắm thân cây trước mặt như muốn bắn. Không có tiếng đạn nổ. Mấy cô nữ cán bộ cười xòa, thoáng cái họ đã xuống tới lưng chừng dốc.

Một con chó mình mẩy dính máu khô từ trong một bụi cây lết ra, anh lính giải phóng lượm một hòn đá ném mạnh. Còn chó còn đủ sức để chạy bằng ba chân, nhưng chỉ được một quãng, nó bò lết rồi nằm bẹp một chỗ. Anh lính đi tới gần đưa súng lên đầu con vật nhắm bắn, nhưng cũng không tiếng nổ, con chó le lưỡi, miệng đầy nước dãi, mắt ngước nhìn người đứng trước mặt, ánh mắt con vật làm người lính vội quay đi, rồi trở về chỗ cũ. Mấy cô nữ cán bộ đã vòng trở lên, ngang qua mặt anh, mấy cô vẫn ỳ ạch đẩy và người nữ cán bộ ngồi trên xe trán đã lấm tấm mồ hôi nhưng khuôn mặt lại hết sức tươi tắn.

Chưa bao giờ thành phố Huế sống trong một không khí đầy chết chóc, hoang mang như thế. Tất cả những xác chết cũng như những cán binh bị thương đều đã được đưa lên ngả núi. Nhưng trong mỗi xóm, cứ vài giờ là có một vài người bị thương không được đầy đủ thuốc men ngã ra chết. Từ sáng tới chiều, tiếng khóc bật lên từ nhà này tới nhà nọ. Tiếng khóc như một bệnh dịch truyền nhiễm rất nhanh. Bên cạnh những sự chết chóc đau buồn, còn phải nhắc tới cái bệnh dịch hân hoan của các anh giải phóng. Buổi sáng họ còn e dè với người dân, nhưng tới trưa tới chiều, một nội lệnh được truyền tai rất nhanh, họ thay đổi thái độ thành những chiến sĩ rất nhũn nhặn thương dân sống hòa hợp với dân dễ dàng. Những bao gạo từ trong các ngôi nhà cùng với bánh tét bánh chưng, mứt bánh đầy ứ trong mấy ngày tết được mang ra sân chất lên những chuyến xe vận tải để chở lên miệt trên, mà theo các anh giải phóng thì họ mượn tạm cho quân đội giải phóng. Vài hôm nữa, khi ổn định xong thành phố, gạo sẽ rẻ vô cùng, không có cắt cổ như Mỹ ngụy mà bán một bao tới mấy nghìn đồng. Họ cũng hô hào nhà ai có “cờ ba que” (cờ ba que là cờ VN màu vàng có ba sọc đỏ) thì phải đem ra đốt đi để thay bằng lá cờ giải phóng, cờ bác Hồ. Những ai còn gạo, còn bánh thì phải đem ra trình với quân giải phóng, họ làm những cuốn sổ ghi tài sản của dân để vài hôm nữa, khi cụ Hồ vào sẽ đền ơn xứng đáng. Họ cũng kêu gọi những thanh niên đừng lẩn trốn mà phải ra trình diện để nhận lãnh sự khoan hồng. Mấy nhà hòm nên hy sinh giúp đồng bào hoạn nạn lo chôn cất những người dân bị chết, nhưng tất cả những khu vực đều không được đi. Trong mỗi vườn nhà đều chôn mộ người thân. Họ cũng đề cao cảnh giác, dân chúng không được ra đường, không được tụ họp trừ khi được giấy của quân giải phóng mời đi học tập. Suốt ngày những cô cán bộ lân la vào nhà này nhà nọ hỏi thăm tình cảnh của dân, làm thân với các bà, các cô, các anh các chị. Những bà già mới nhìn họ như nhìn những vị hung thần, bây giờ họ phong lên làm mẹ giải phóng, các thiếu phụ được làm chị giải phóng. Những người lớn tuổi đều tiếp đón họ bằng ánh mắt nghi ngờ, đề phòng nhưng trẻ con thì có vẻ khoái lắm. Chỉ mới từ sáng tới chiều, chúng đã tụ xung quanh các cô nữ cán bộ, các anh bộ đội. Chúng vui thích theo dõi các cuộc tập xe đạp của các cô nữ cán bộ hoặc chúng bu quanh các anh giải phóng. Nhà nào cũng có quân giải phóng tới thăm hỏi, họ nấu cơm hay ăn uống ngay trong nhà. Các cô gái khỏe mạnh được mượn đi nấu cơm cho bộ đội. Những thanh niên, những cậu trai mười bốn mười lăm được mượn đi tải súng đạn, hoặc được phát súng, được chia toán để giúp các anh bộ đội sắp tổ chức những buổi học tập. Mới ngày đầu, nhiều thanh niên đàn ông trốn chui nhủi trong xó buồng, trên trần nhà. Nhưng tới ngày thứ hai, nhiều người nghe các anh giải phóng kêu gọi đã ra trình diện: Ai ở nhà đó, chúng tôi không bao giờ dám động tới một người dân, chúng tôi là bạn dân mà. Đó là câu nói thuộc lòng của mấy anh giải phóng. Mặc dù các khu vực đều cấm liên lạc với nhau, mấy nhà chung quanh chỉ được hỏi han dăm ba điều mà có nhiều tin đồn lắm. Chẳng hạn như buổi trưa ngày thứ hai, nhiều người được tin là chiếc xe sang trọng nhất của cố vấn Mỹ ở Huế bị trưng dụng, một cấp chỉ huy của Việt cộng đã lái đi khắp thành phố. Một tin khác lại nói rằng nhiều xe nhà binh do các anh giải phóng lái chở đầy nhóc bánh chưng bánh tét và gạo chạy qua các ngả đường. Các anh lính giải phóng vui vẻ hơn, họ hỏi han dân, và khi có người đàn bà nào nhắc tới những tin đồn thì họ cười tin tưởng:

“Quân giải phóng đã chiếm được Huế, bây giờ cố giữ để vãn hồi trật tự, chờ cho các tỉnh đánh xong là hòa bình.”

Nhiều người ngơ ngác vì sự phát giác trên. Họ nghe ra dô nhưng nhà nào có ra dô đều bị các anh giải phóng trưng dụng hết. Họ tịch thu và nói rằng, trong lúc này, đồng bào chỉ nên nghe lời của quân giải phóng, có thể Mỹ ngụy tung những tin sai lầm làm dân chúng hoang mang. Nhiều người dấu được ra dô nhưng không dám mở ra nghe nữa. Những nhà có người thân chết đã tìm ra được vải để chít khăn tang, một vài nhà có mùi hương khói bay ra trước con mắt nhìn hết sức dửng dưng của các cán bộ giải phóng. Họ ăn uống thả cửa. Ngày tết gia đình nào cũng dự trữ đủ thức ăn. Nhưng qua ngày thứ hai thứ ba hết thịt, một vài nhà lén làm thịt heo thịt gà, quân giải phóng len lỏi tìm kiếm được mua lại của dân bằng một giá rẻ mạt. Rồi họ tổ chức tập họp vào ngày thứ ba. Buổi sáng cho thanh nữ, buổi chiều cho thanh niên. Đồng thời họ rút quân tập trung vào một vài nơi, tạm rời nhà dân chúng, nhưng lúc nào các cán bộ cũng len lỏi từng nhà lấy cớ là đi thăm hỏi.

Buổi học đầu tiên được tổ chức trong một ngôi chùa rộng, hoặc các trường học. Người ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy xóm này xuất hiện một người đại diện cho dân, rồi xóm khác một người đại diện. Những người này mới hôm qua là anh đạp xích lô hay ông già say rượu sống lây lất đầu xóm. Dân chúng cũng không khỏi ngạc nhiên khi thấy tiếng cười vang ở một vài người mới mấy hôm trước có vẻ lù đù nhất, bây giờ trở thành những nhân vật hết sức kích động, họ đi lối xóm hô hào, tuyên truyền cho quân giải phóng.

Ngay chiều thứ hai, mồng ba tết, có một vài vùng đã được chứng kiến cảnh xử tội. Một vài nhân vật trong xóm bị bắt kết tội là theo quân Mỹ ngụy. Họ bị đưa vào một trường học, các thanh niên nam nữ được nhóm lại. Những bộ mặt quen thuộc nằm vùng là người đủ thẩm quyền kể ra nhiều tội trạng của bị cáo nhất. Những bản án được kết thúc vội vàng. Nhiều kẻ bị dẫn đi, rồi ngay buổi chiều hôm đó nhiều tin đồn có người đã bị xử tử. Mọi người chưa tỉnh hồn bởi một đêm mồng một súng nổ ghê hồn, một buổi sáng mở mắt dậy thấy đầy máu me xác chết, thì đã bắt đầu lo sợ vì những cuộc tìm bắt xử án của quân giải phóng. Mặc dù ngoài mặt họ tỏ ra rất tử tế với dân chúng, nhưng đồng thời những vụ bắt bớ, xử tội đã bắt đầu; trường học, nơi của trẻ thơ, chùa chiền nhà thờ, nơi của đạo giáo, bỗng trở thành nơi hội họp, nơi tòa án nhân dân thành lập.

Thỉnh thoảng có vài tiếng súng lẻ tẻ hoặc một tràng. Mọi người như những con chim bị thương vội vàng nằm xuống đất, kẻ chui tọt dưới gầm bàn, gầm phản. Trẻ con cũng đã quen với không khí căng thẳng sợ hãi, đã nhìn thấy máu me chết chóc, hễ cứ nghe thấy tiếng súng là không cần đợi ai nhắc nhủ, cứ chạy tìm ôm chặt người lớn, hoặc sát mặt xuống nền đất. Nhưng tiếng súng chỉ lẻ tẻ rồi im lặng kéo dài, không có gì thêm ngoài tiếng cười nói của các anh giải phóng ở ngoài đường ngoài tiệm.

Đêm đến, trong bầu không khí im lặng đến ngộp thở, người ta nghe tiếng cú rúc. Tiếng cú rúc đầy khắp thành phố. Người ta hồ nghi, giữa bom đạn, giữa không khí sặc mùi tử khí hôi hám, lũ cú dám mò về làm náo loạn cả thành phố đang tê liệt. Tiếng cú hay tiếng người làm mật hiệu rú trong đêm? Người ta nín thở và chờ đợi, không biết chờ đợi cái gì sẽ đến, nhưng linh tính sẽ còn nhiều điều xui xẻo, tang thương. Những người chồng bỗng nhìn vợ trìu mến hơn, những bà mẹ ôm con thơ như sợ chúng sắp biến mất. Cỏ cây, nhà cửa, người, súc vật bỗng như cảm thấy một sự gần gụi khó tả.

Người ta không thể biết thêm gì ngoài những tin tức do các nữ cán bộ, những anh giải phóng tuyên truyền. Trong những buổi họp, nhiều cụ già lên tường trình về những tin tức. Những cô gái đi họp về kể lại rằng một ông già bán cháo lòng được bầu lên làm chủ tịch buổi học tập, mở đầu buổi họp, ông thường lên nói về tình hình chiến cuộc trong nước. Đã dốt chữ lại không quen nói, ông thường gọi trật tên các đài phát thanh và dùng sai danh từ nhưng chả ai dám sửa đổi hoặc cười. Ông bàn về tin tức chiến sự và luôn luôn mở đầu bằng câu: Theo đài a, bê, xê thì quân giải phóng đã chiếm được Sài Gòn và các thành phố, các tỉnh khác. Quân giải phóng hoàn toàn làm chủ tình thế. Buổi họp nào ông cũng nhai đi nhai lại câu đó. Các cậu sinh viên bấm nhau. Các thiếu nữ nhìn nhau ngẩn ngơ. Bình thường chả mấy khi được nghe một câu chọc cười đã như thế, nhưng lúc này chả ai còn dám cười được nữa. Những buổi họp gần như bị bắt buộc nhưng họ vẫn rỉ tai nhau, làm thế nào để những thanh niên, đàn ông tránh mặt bớt, đừng để cho các anh cán bộ nhìn thấy.

Đến chiều ngày thứ hai thì không khí hân hoan của các đồng chí giải phóng bớt sôi nổi. Sau khi một ông thợ may bị tình nghi là liên lạc viên của Mỹ ngụy bị giết, xác vất ở một ngã ba, sau khi hai thanh niên trong một cái hầm nhỏ bị bắn vì mang tội trốn tránh quân giải phóng, các nữ cán bộ đã rút hẳn vào những địa điểm được chỉ định sẵn, không lui tới thăm viếng thường trực các nhà dân nữa. Cho đến hôm đó tiếng súng lẻ tẻ bắt đầu nổ ở các miệt xa, về hữu ngạn.

Các anh giải phóng nói với nhau là xe tăng của Mỹ có lên thám thính miệt quốc lộ, có thể xảy ra ác chiến. Nhưng nguồn tin đó không chắc chắn gì, ở một vài vùng đã có các anh giải phóng đi rao:

“Các thanh niên, đàn ông lo chuẩn bị mười lăm ngày gạo để đi dự một lớp học về đường lối của quân giải phóng.”

Họ đào hầm, hố cá nhân, tải vũ khí. Không khí căng thẳng hẳn lên. Ngoài đường, trong vườn, ở các đầu hẻm vang tiếng xẻng cuốc của các anh giải phóng đào hầm.

Thanh niên, đàn ông bắt đầu tìm chỗ trốn. Từ các cánh cửa sổ hé mở, những khuôn mặt già trẻ ló ra nhìn những anh giải phóng đào hầm, mày mặt lầm lì, không ai dám hỏi thăm vui vẻ như mấy giờ qua nữa.

Đến đêm thứ ba thì cả thành phố bỗng bật dậy vì hỏa châu, vì đại bác. Các anh bộ đội, các cô nữ cán bộ không còn thấy ở đâu nữa, họ như bóng ma lẩn vào đêm tối. Người ta chỉ nghe thấy tiếng kêu khóc quen thuộc của đêm mồng một tái hiện. Chưa ai kịp đào hầm để tránh bom, đêm hôm đó các miệt Từ Đàm, Thành Nội, Gia Hội, Kim Long là những miệt ăn chịu đại bác nặng nề nhất.

Buổi sáng hôm sau, người ta vội vã đào hầm. Hầm đào ngay trong sân, trong vườn, hoặc đào ngay trong nhà. Các anh giải phóng chỉ còn gác lẻ tẻ ở các góc đường. Dân chúng tràn ra đường, hỏi thăm nhà này nhà nọ. Có vài gia đình lục đục đi tản cư, nhưng các anh giải phóng đứng gác các ngả đường ra hiệu không cho ai được đi hết. Người ta đào hầm vội vàng, tất cả các cửa sổ, cổng sắt đều được dỡ xuống để làm hầm. Có nhà không đủ vật liệu, họ ra trại mộc, hoặc chặt tre.

Vài trại mộc chỉ thoáng cái là không còn một tấm ván. Hết ván, người ta bê cả hòm, nắp hòm về để chống đỡ nắp hầm bằng đất. Có nhà đào được hầm rồi cả nhà xuống núp thấy chật chội quá lại phá ra làm lại. Đến trưa thì đại bác lại câu lên, đang ăn cơm có kẻ bỏ cả cơm nước chui xuống hầm. Các anh giải phóng chui xuống hố cá nhân. Họ không ở trong nhà dân nữa, nhưng khi có tiếng súng, họ ở đâu không biết, tràn vào các vườn, các đường, đen kín các hố cá nhân.

Khi tiếng súng tạm dừng, cảnh đào hầm lại tái diễn. Vài đám cãi nhau chửi nhau vì tranh nhau ván ở trại mộc hoặc đất cát. Cuộc pháo kích bất thình lình làm một số dân chúng và một số quân giải phóng chết hay bị thương. Họ lại vào từng nhà bắt thanh niên thanh nữ đi tải lên miệt núi. Người ta nhốn nháo đồn đại với nhau là họ đặt bộ chỉ huy trên đó. Về phía bên tả ngạn, bộ chỉ huy đặt ở phường Gia Hội. Ở vùng này hoạt động hăng hơn, mặc dù đại bác câu lên đều, họ vẫn tổ chức những buổi họp, học tập. Trong thành nội, quân giải phóng hoàn toàn chiếm hết. Có những cán bộ nằm vùng, những thanh niên mất tích từ lâu, bỗng thấy xuất hiện. Họ đeo băng, họ cầm đầu, họ đi lùng từng nhà hỏi tội. Vài cuộc rượt bắt, vài người bị bắn gục ngã giữa đường, xác người để đó không ai dám đem đi chôn, có xác đã bắt đầu có mùi, máu khô đọng, sặc mùi tanh và ruồi nhặng bu đầy, trông hết sức kinh khủng.

Bắt đầu những ngày Huế mở cửa địa ngục.

Chương 4
Qua một chuyến đò

Tôi góp nhặt được nhiều mảnh chuyện vụn vặt, mỗi người kể mỗi khác nhau về mấy ngày đầu tiên quân giải phóng đến Huế. Góp một ít khi ở nhà thờ, một ít khi vừa mới tới cung An Ðịnh. Tưởng đến cung An Ðịnh thì đoạn đường gian nan đã bớt một nửa, vì khi vừa đặt chân tới đó, tôi đã nghe nhiều người kháo nhau:

"Có máy bay của quân đội mình rồi. Họ kêu gọi dân chúng cố di chuyển về hữu ngạn."

"Hữu ngạn là đây nì."

"Nghe nói bên mình cho máy bay lên thám thính bị chúng bắn lên như mưa, máy bay phải bay cao tít."

"Mà thiệt chị có nghe trên máy bay người ta kêu rứa không?"

"Nghe chớ. Bà con không thấy đó răng, người ta chạy rần rần về phía hữu ngạn hết nì. Các vùng khác kẹt lắm. Phía trên Phủ Cam, Bến Ngự, Từ Ðàm, không ai về được hết."

"Qua cầu Tràng Tiền được không?"

"Mô được, họ đóng đầy ở nhà dây thép mà."

Mỗi người mỗi chuyện, tôi lơ mơ biết được tình hình chung của thành phố. Tôi nói với má tôi, chú tôi là mình ở phía hữu ngạn chắc yên rồi. Nhưng khi tìm được chỗ ngồi, chưa kịp dỡ vắt cơm mang từ nhà qua, thì súng lại nổ, chúng tôi lọt vào giữa trận chiến. Trong lúc tôi nằm xuống chân bàn, đầy hơi người hơi chó và chờ chết. Tôi nghĩ là chắc chắn chết, căn nhà lầu sẽ bị sập, sẽ chôn vùi chúng tôi trong đám gạch vụn, thì bỗng tiếng súng im rơ một vài phút. Sống rồi. Một tiếng nào kêu lớn trong đầu tôi, dội ngược ra và mở mắt nhìn từng người chung quanh. Họ ngồi rột dậy ngơ ngác, bụi cát còn bay mù mịt, các cửa kính vỡ chưa hết rung. Nhìn lên chiếc sập "ngài ngự" thấy còn lại cơi trầu bằng đồng chạm rồng phượng và cái chăn nhiều màu. Ngài đã được cõng đi rồi. Không biết có sống thoát được không! Chưa kịp nói với ai một lời nào thì một tiếng B40 lao vút trên mái ngói. Ầm, một mảng mái nhà sập, bụi bay mù, mọi người rụt đầu, thu mình nhỏ lại. Cánh cửa sổ chỉ còn dính vài mảnh kính, sắt nhọn bỗng như bị va mạnh, rồi một bóng người nhảy vụt vào. Vài tiếng la bật lên, vài tiếng ú ớ không ra lời. Họ tràn vào rồi. Vài người úp mặt vào hai bàn tay. Tôi mở nhìn sững, không phải lính quốc gia hay quân giải phóng mà là Thái. Mình nó đầy máu. Nó nhớn nhác nhìn tìm rồi lôi má tôi, lay chú tôi và cả nhà dậy:

"Chạy, chạy bác, chạy chị."

Tôi kéo nó nằm xuống, hét:

"Em, làm người ta hết hồn. Chạy đi mô, chết hết bây chừ đó."

Thái dựng thẳng tôi ngồi dậy. Lúc này tôi mới thấy bên hông mình ướt sũng. Máu, máu còn tươi rói chảy dọc xuống dưới chân. Tôi bị thương rồi. Bị thương sao chẳng thấy đau đớn gì hết. Tôi quay vụt lại:

"Má."

Má tôi mở mắt nhìn tôi lờ đờ. Tôi bật khóc chồm tới kéo má tôi:

"Má, má bị rồi."

Má tôi lắc đầu. Thái bỗng lôi tuột tôi chúi vào người nó:

"Dang ra, dang ra."

Tôi nép hẳn vào vai cậu em. Lúc này tôi mới định thần nhìn kỹ con chó to lớn mới đây chui rúc bên hông tôi đã bị thương nặng. Có lẽ nó chết rồi cũng nên. Tôi không thấy nó nhúc nhích cục cựa gì nữa, nhưng nơi vết thương máu vẫn còn rỉ rả chảy. Thái nói nhỏ vào tai tôi:

"Chị nói bác chạy gấp đi, họ đang siết vòng vây ở ngoài. Không lừa lúc này chạy là chết."

Không lừa lúc này chạy là chết. Tiếng chết như một sợi dây bắn ngược tôi tới cửa sổ, rồi nhanh như cắt, tôi lao đầu ra ngoài, mặc cửa sổ cao thấp thế nào chưa biết. Tôi rơi tọt ra ngoài cùng lúc cánh cửa chính mở, Thái và Bé thấy tôi chạy cũng hốt hoảng chạy theo. Chúng không kịp nhảy qua cửa sổ mà húc vào cánh cửa lớn. Vài miếng kính còn dính lại tiếp tục rơi loảng xoảng. Chú tôi, má tôi, vợ Bé, Thu và mấy đứa nhỏ cũng hốt hoảng chạy ra theo. Tôi nhìn quanh. Tuyệt nhiên không có một bóng người nào. Nhưng rõ ràng họ đang gờm nhau, đang bắn nhau. Lúc ở trong cung An Ðịnh, tôi nghe như tiếng súng bắn đi từ phía cửa, hay chính từ bên trong bắn ra nữa. Vậy mà tôi không nhìn thấy ai hết. Thấy tôi ngơ ngác, Thái lại kéo tay tôi chạy. Hình như nhiều người khác cũng vừa theo chúng tôi chạy ra nữa.

Bờ sông chắn trước mặt. Chúng tôi đã bỏ xa cung An Ðịnh một khoảng dài.

Tiếng súng đằng sau lại nổi lên, dữ dội, ác liệt hơn. Nhưng tiếng súng kéo dần tới phía trước đồng, bên phía nhà thờ. Chúng tôi xa dần nơi nguy hiểm. Một đoàn người từ phía cầu chạy xuống. Thái hỏi:

"Qua cầu được không?"

Mấy cái đầu cùng lúc lắc một lượt. Tôi kêu lớn:

"Ðừng chạy tới phía đó, họ đang đánh nhau."

Nhưng đoàn người như không nghe, họ vẫn cắm đầu chạy. Mấy đứa trẻ con vấp ngã, khóc ré lên rồi lại lồm cồm ngồi dậy chạy tiếp. Vợ Bé lúc này mới kêu lên:

"Bỏ hết đồ lại ở trên nớ rồi."

Bé la lên:

"Bỏ hết, chết chưa lo, lo ba cái đồ..."

Vợ Bé mếu máo:

"Còn mấy vắt cơm không mang đi, chút nữa cũng chết đói."

Lúc này tôi chạy lúp xúp sau Thái. Tôi bỗng hoảng kinh khi thấy máu ở cổ nó đang chảy giòng xuống vai. Tôi kéo tay nó:

"Thái, em bị thương rồi."

Nó vừa chạy vừa thở:

"Cả cái mái ngói đổ xuống đầu em. Như ri là nhẹ, không răng mô chị."

Một bến sông nữa hiện ra, Thái reo lên:

"Có đò, có đò, mình qua sông được rồi."

Khúc sông ở đây sao yên lành quá, cây sung bên bến sông vẫn xanh um, mặt nước vẫn lặng lờ và mấy hòn đá đặt trên bến vẫn sạch sẽ, nhẵn bóng. Tôi bàng hoàng như nhìn thấy một cảnh nào ở trong cơn mộng hoặc mắt mình đã hoa lên rồi. Chúng tôi vừa dừng lại bến thì đằng sau cũng có vài người khác chạy đến. Thái hỏi:

"Chạy ở mô tới?"

"Ở bên nhà thờ."

"Ở cung An Ðịnh."

"Thấy chi không?"

"Chắc sập hết rồi, bắn dữ lắm."

Thu chạy xuống bến. Mấy con đò như bỏ hoang không người ở. Chúng tôi gọi mãi mới có một chị đàn bà ló ra.

"Cái chi rứa?"

"Cho chúng tui qua sông với bà ơi."

Người đàn bà lắc đầu:

"Không được mô. Ðang đánh nhau dưới nớ, ra giữa sông lỡ đạn trúng mần răng."

"Chị ở đây cũng trúng rứa."

"Thà tui chết một mình. Tui còn một mình mà."

Giọng chị lạnh như đồng. Thái năn nỉ:

Chị làm phước cho tụi tui qua bên nớ. Bên nớ có nhà quen không tụi tui chết hết ở đây."

"Ðông rứa răng mà chở nổi."

Má tôi nói khó:

"Chị làm phước cho mấy chuyến. Thời buổi giặc giã ở có đức để lại cho con cái."

"Tui một mình chớ có ai mà đong phúc. Tui chưa đi mà ở đây chờ coi ông dôn tui có nổi lên ở khúc sông ni không."

Chúng tôi đã đoán ra lờ mờ câu chuyện. Chắc chồng chị ta vừa mới chết, và chị ta đang dở điên dở khùng. Chúng tôi lại nói khó. Chị đàn bà bằng lòng chở mấy chuyến. Qua khỏi khúc sông ngắn có mấy thước, Thái đưa tiền và buộc chị đàn bà phải lấy. Chị cầm tiền và trở mũi qua đưa những người khác đang đợi bên kia bến.

Tiếng súng ở bên phía cung An Ðịnh, bên phía đồng có vẻ êm hơn. Khi chúng tôi lên đường cái thì không còn sức để nghe ngóng nữa. Khu này yên tĩnh quá. Chưa một nhà nào bị hư hại gì hết. Bé nói:

"Mình tìm nhà quen ở để rồi mai mình về nhà. Chắc khu mình gần quốc lộ họ rút hết rồi."

Thái cãi:

"Rút chi nổi. Ðừng có lầm mà chết."

"Xe Mỹ ở quốc lộ chạy lên đồn An Cựu mà mi còn cãi nữa..."

"Xe Mỹ lên là nghe tiếng súng rồi, không thấy hay răng."

Chúng tôi tiếp tục chạy. Tôi hỏi Bé đây là miệt nào. Bỏ Huế lâu quá, tôi quên gần hết đường sá. Bé nói đây là đường lên Tân Lăng, lên chút là có chùa.

Nghe đến chùa, má tôi mừng rỡ:

"Mình vô chùa xin ở nhờ. Chắc họ không dám phá chùa mô."

Thái nói:

"Nhà thờ còn bắn sập huống gì chùa họ nể. Mà cứ thử coi."

Tôi mệt lả không đi được nữa. Lúc này tôi mới thấy chân nhức buốt. Tôi đã bỏ mất dép, chân tôi lại bị một mảnh kính cắt, máu còn rỉ rả chảy. Tôi ngồi bệt xuống đất:

"Con không đi được nữa."

Má tôi dỗ dành:

"Ráng chút nghe con, ráng đi chút con. Gần tới rồi."

Nhưng má tôi cũng mệt quá. Lúc này nhìn lại má tôi, tôi thấy bà vẫn còn xách cái xách áo quần nơi tay. Sự sợ hãi đã làm má tôi quên cái xách tay nặng nề. Thái vẫn ôm chiếc cặp da của tôi. Má tôi vừa nói vừa ngồi xuống bên cạnh tôi. Thu cũng ngồi theo, mấy đứa nhỏ cũng ngồi bệt xuống đất. Có mấy nhà mở cửa hé nhìn chúng tôi rồi vội đóng cửa lại. Tôi không hy vọng gì họ giúp chúng tôi lúc này. Thái và Bé quay lại, thấy chúng tôi ngồi bệt cả xuống đất và chú tôi nửa muốn ngồi nửa muốn đi thì giơ tay cản:

"Thôi, để tụi con tới chùa coi răng."

Nhưng đi được một quãng, chúng quay lại. Lúc này chúng mới để ý đến những đoàn người chạy loạn, đoàn này đi tới trước, đoàn kia chạy ngược lại. Hỏi họ thì ra phía nào cũng có đánh nhau hết. Vợ Bé đang ngồi bỗng đứng rột dậy:

"Quên rồi, ở xóm ni mình có chị U, mình vô tạm rồi sai con Thu về nhà coi ra răng."

Tôi cũng mong có chỗ ngồi nghỉ, uống một ngụm nước. Từ sáng đến giờ tôi chưa có miếng cơm, chưa uống được một giọt nước. Bé hăng hái dẫn đầu. Chúng tôi đi vào một xóm nhỏ toàn nhà tranh. Bé gõ cửa mãi mới thấy người ra mở cửa: Chị U.

Bé kêu mừng rỡ:

"Tưởng chị đi tản cư rồi chớ. Không can chi há?"

"Can chi. Ở đây mấy bữa ni có chi mô. Không ai đi hết."

"Không có mọt chê câu tới hả?"

"Không, xóm trong bị rồi. Mà ngoài ni đào hầm hết rồi. Can chi mà sợ."

Rồi chợt nhận thấy một đoàn người đông đúc đứng đàng sau lưng Bé, người đàn bà hỏi:

"Bà con hết há?"

"Dạ bác em nì chị. Chị em. Bác, đây là bà chị vợ của con."

"Vô, vô nhà hết đi, đừng đứng đây lộn xộn họ dòm ngó."

Cả đoàn kéo vô nhà. Nhà nhỏ, chật hẹp. Thái lót cái chăn dưới nền đất để nằm đỡ. Má tôi, vợ Bé mới sanh và mấy đứa nhỏ được chủ nhà nhường cho cái giường nhỏ, nằm sát vào nhau, chỉ trở mình nhẹ là có thể rớt xuống đất. Tôi, Thu và Thái phải nằm dưới đất. Trời bắt đầu mưa phùn, lạnh căm da. Vừa sợ, vừa lạnh lại thêm cái đói dày vò, tôi run lập cập. Người chủ nhà lấy cho tôi một bát cơm nguội ăn với xì dầu. Tôi ăn như chưa có bữa cao lương mỹ vị nào ngon lành đến thế. Ăn xong thì trời đã chiều. Thái hỏi dò người đàn bà xem ở đây có quân giải phóng không. Người đàn bà cười tươi tỉnh:

"Không răng mô. Họ về hoài, họ đi ngoài đường kệ họ. Họ tử tế lắm mà."

"Họ có soát nhà không?"

"Mấy bữa đầu thôi. Mấy hôm đầu họ nhờ mấy con nhỏ đi tải đạn, tải thương. Bữa ni hết rồi. Họ cũng là người chớ chi mà sợ. Họ tử tế lắm mà."

"Bà có nói chuyện với họ không?"

"Nói hoài. Có răng mô."

Người đàn bà ở với một bà già chồng gần bảy mươi tuổi và một đứa con trai út mười bảy tuổi. Người chồng bỏ đi thời kháng chiến cũ không thấy tin tức. Khi biết ra điều đó, tôi không còn lấy làm lạ về cảm tình của bà ta đối với mấy anh giải phóng nữa.

Buổi tối, chúng tôi không dám ngủ trên nhà mà xuống ngủ dưới hầm đào ở trước sân. Chú tôi, Thái và Bé vào ngủ ở nhà thờ của một dòng họ lớn trong xóm. Nhà thờ xây kiểu xưa, đá lớn chắc chắn lắm. Tôi, và những người đàn bà khác cùng trẻ con xuống hết dưới hầm. Chiếc hầm nhỏ quá mà phải chứa tới hơn mười mạng người, chúng tôi không còn chỗ đặt lưng.

Khoảng gần mười giờ là đại bác từ Phú Bài bắt đầu câu vào thành phố. Hỏa châu soi sáng rực cả bầu trời. Tiếng máy bay gần rồi xa. Không khí báo hiệu một cuộc đụng độ lớn. Cả thành phố như đều chìm trong điềm gở sắp bị tàn diệt. Tôi ôm chặt lấy má tôi, dựa đầu vào vai bà mà ngủ. Má tôi không ngớt lời cầu nguyện: Cầu cho con tôi tai qua nạn khỏi. Cho con tôi sống.

Tôi biết má tôi đang lo cho tôi nhiều nhất. Chồng con tôi ở Sài Gòn chắc đang bấn ruột bấn gan vì tôi. Nhưng tại sao tôi tin được chồng tôi còn rỗi rãi để lo cho tôi. Tin tức đồn đãi cả Sài Gòn và các tỉnh đã mất. Vậy chồng con tôi đã lưu lạc tới nơi nào rồi.

Tôi muốn nói: má ơi, con sợ quá. Nhưng tôi phải tỏ ra can đảm hơn để má tôi yên lòng đôi chút. Tôi nói:

"Ðánh nhau lớn chắc sắp yên rồi."

Tiếng nói của tôi thật nhỏ nhưng trong hầm kín mọi người đều nghe hết. Một cô gái mập ú đang ngồi sát bên tôi lên tiếng:

"Họ đông lắm chị."

Tiếng người con trai bà chủ nhà nói theo:

"Con ni nó đi khiêng xác đó chị, chết bất loạn."

Tôi hỏi:

"Khiêng đi mô."

"Khiêng lên tận trên núi. Họ chết nhiều lắm đếm không hết."

"Chị khiêng như vậy mà không sợ à?"

"Sợ bắt chết. Vừa khiêng vừa run. Trời lại lạnh nữa, hai đầu gối mình như muốn sụm luôn. Gớm bắt chết. Xác nào cũng dính đầy máu. Còn người bị thương thì chất lên xe như sắp cá rứa, người ni chồng lên người nọ, không biết mần răng mà sống cho được."

"Toàn là quân giải phóng hết?"

"Chơ răng. Họ chớ ai vô đó nữa."

"Khiêng xong họ cho về?"

"Họ còn bắt đi khiêng đạn chớ, mà tui trốn. Túi ni chắc trong họ cũng về bắt đi nữa. Tui trốn ra đây ngủ nhờ. Trong đó có mọt chê câu tới rồi đó."

Tôi không hỏi nữa, nhưng cô gái có đà, cứ nói tiếp:

"Nơi vườn cạnh nhà tui họ chôn người dễ sợ quá, lòi mấy cái chân."

"Nói dóc đi, bà nội."

Nghe cậu bé con bà chủ nhà nói móc, cô gái nổi sùng:

"Ðồ con trai chui dưới hầm cả ngày cả đêm biết chi. Ra ngoài mà coi thử. Sau chùa tề, họ chôn lòi tay lòi chân coi dễ sợ bắt chết. Nì, mi biết thằng Tư hớt tóc không?"

"Biết."

"Ờ. Hắn bị bắt ra ngoài vườn đào hố chôn xác chết, mà chôn sau vườn hắn mới ghê chớ. Hắn trốn đi được rồi."

"Tao ghét thằng đó lắm, cho họ bắt luôn."

"Mày ăn nói đoảng hậu chi rứa. Răng mà ghét người ta?"

Có tiếng người đàn bà tên là chị U gắt khẽ. Một trái hỏa châu rơi thật gần và lửng lơ hạ xuống. Ánh sáng soi rõ cả vào miệng hầm. Tôi nhìn ra được mặt cô gái. Má tôi kéo manh chiếu rách che bớt miệng hầm lại. Ðêm hôm đó chúng tôi ngồi suốt đêm. Ðại bác bắn ình ình vào các miệt, nhưng may mắn không có quả nào rơi vào xóm chúng tôi trú ẩn. Tiếng đại bác không ngớt, dội cả mặt đất. Mắt tôi như tá hỏa theo mỗi tiếng nổ, và cứ thế, cả đêm, trái tim đập liên hồi, nỗi lo sợ đặc quánh cho tới gần sáng.

Lại thêm một lần được may mắn nữa. Ðến gần sáng tiếng đại bác thưa dần chỉ còn nổ ỳ ầm ở miệt xa, như trên núi. Chờ thêm một tiếng đồng hồ nữa chúng tôi mới lên khỏi miệng hầm. Súc miệng bằng muối hột và rửa mặt bằng nước mưa. Trời vẫn còn mưa bay và lạnh giá, tôi khoác chiếc áo măng tô của ba tôi để lại trên người, cùng với Thái đi dần ra ngõ.

Dần dần bạo dạn, hai chị em ra tới miệt sông. Từ các phía vẫn còn những toán người tản cư lẻ tẻ. Thái đón lại hỏi, có người cho biết họ ở đồng An Cựu, hoặc ngả chợ An Cựu. Có người cho biết họ ở bên nhà thờ chạy qua. Cầu An Cựu còn không? Người trả lời còn, người trả lời bị sập. Không biết tin ở ai nữa. Thái nói với tôi là mình đã hết sức may mắn, đêm qua bên nhà thờ, Việt cộng đã tràn vào bắt hết đàn ông, công chức mang đi. Nó kể lại mà mặt nó tái xanh cắt không ra giọt máu.

Phía đường rầy vẫn có người đi. Thái chỉ cho tôi thấy những đoàn người xuôi ngược phía trên đường rầy, ẩn hiện sau những bụi cây thấp.

Khi hai chị em trở vào, Thái chợt nhìn lên ngọn điện cao. Nơi ngọn điện có tháp cây tre và trên cây tre một lá cờ hai mầu đỏ và xanh lá mạ bay phất phới. Chiều qua, khi đi ngang qua đây, khi nhìn lên cột điện này để coi trên trời có máy bay không, tôi đâu có nhìn thấy gì. Thái đem chuyện đó vào kể cho mọi người nghe, chả ai lấy làm lạ hết:

"Họ treo hoài. Họ treo cả trong chùa, nơi ngã ba nữa..."

Nhưng đến trưa hôm đó thì cả xóm nhỏ này không ai còn đủ bình tĩnh nữa. Ðại bác đã câu tới nơi. Tiếng máy bay như gầm, xé nát bầu trời ảm đạm, xám ngoét. Giữa trưa, chúng tôi phải chui xuống hầm. Một số khác vào nhà thờ họ. Những tiếng nổ rất gần, có lúc như dội ngay đầu. Còn nghe tiếng nổ là chưa chết. Thái bấm vào tay tôi:

"Chị bịt chặt hai tai lại, nằm sát cho đỡ tức ngực."

Một vài nhà có tiếng kêu khóc như ri. Nằm trong hầm chật quá, ngột không thở được, Thái chờ ngớt tiếng đại bác, kéo tôi chạy tọt vào nhà thờ. Từ trưa tới chiều tối hôm đó, đại bác không ngừng nữa, nhưng độ bắn đã đi xa hơn.

Buổi chiều, chúng tôi ra được ngoài trời khoảng chừng mười giây rồi lại chui vào hầm. Ðêm, tôi không vào hầm nữa mà ngủ dưới gầm một cái kệ trong nhà thờ họ. Mấy đêm liền không ngủ, tôi đã mệt nhoài người. Mặc súng, mặc đạn, mặc sống, mặc chết, tôi lăn ra ngủ. Nửa đêm, tôi bị đánh thức dậy bởi tiếng máy bay, tiếng đạn réo, nhưng rồi âm thanh đó cũng chìm đi, cơn buồn ngủ đè nặng lên tất cả. Cho tới sáng hôm sau, Thái phải dựng cổ tôi dậy:

"Ðêm qua chị biết có chuyện gì không?"

"Chuyện gì?"

"Họ về đầy ở đây. Họ gõ cửa nhưng không thấy động tĩnh chi hết họ đi rồi."

Má tôi rầu rĩ:

"Ðiệu này chắc chết quá. Con Vân, túi qua ngủ dữ quá không biết chi hết há. Nổ gần lắm, chắc nhà cửa mình tan hết rồi."

Má tôi lại khóc. Vợ Bé bò ra khỏi bệ thờ, rồi tới lượt chú tôi cũng trở dậy:

"Chắc phải chạy nữa quá. Ở đây nguy rồi."

Chú tôi nói giọng lo lắng. Má tôi bảo Bé và Thu đi nấu cơm nhưng nhớ ra gạo chỉ còn một ít, má tôi nói:

"Nấu cháo ăn đỡ."

Chú tôi phàn nàn ở nhà còn nửa tạ gạo mà con Thu hôm qua về không tới nhà được để lấy đem đi. Con Thu về gần tới xóm thấy xóm vắng tanh nó lại sợ, bỏ đi trở về.

Nhưng nồi cháo chưa chín thì chúng tôi lại nghe tiếng máy bay đến, rồi đại bác dưới Phú Bài lại câu lên. Cả nhà lại vào hầm nhưng lát sau thấy tiếng súng không nhắm vào khu vực này, tôi và Thái lại bò ra vì ngột ngạt quá. Hai chị em chạy qua nhà chị U rồi lần ra ngõ. Có tiếng súng nhỏ bắn như mưa ở miệt Phủ Cam. Chắc chúng bắn máy bay, Thái thì thầm. Ngọn cờ màu máu mạ vẫn phất phới bay trên ngọn tre tháp vào cột điện. Vẫn còn người chạy loạn ở ngoài đường, chúng tôi đón lại hỏi nhưng không ai buồn trả lời, họ vừa khóc vừa chạy. Một đoàn người có võ trang từ phía cầu kéo lên Phủ Cam, Thái kêu tôi chạy vào một cái quán bỏ hoang. Ðoàn người đi ngang qua đường, mặt mày lầm lì, họ vác súng, tay đeo băng, áo quần hỗn độn, Thái thì thầm: Quân Bắc Việt đó. Tôi cố nhìn để phân biệt xem họ có khác gì mà Thái nhận ra được, tôi chịu nhưng không dám hỏi Thái.

Ðoàn người đi lên một lúc, chúng tôi định chạy ra khỏi quán để về nhà, nhưng từ phía Phủ Cam, tiếng chân, tiếng kêu khóc bỗng vang dội. Rồi một đoàn người nữa xuất hiện trước khi tiếng súng ròn rã nổ như mưa, tiếng máy bay gầm như xé trời và đại bác không kịp thở. Ðoàn người đến gần dần, Thái sửng sốt:

"Trời ơi, dân, dân chạy loạn."

Ðoàn người có đến cả trăm người, dẫn đầu là mấy ông cha, một hai ông sư. Họ cầm cờ trắng, làm bằng đủ thứ vải tơi tả, lá cờ hàng phục, lá cờ sợ hãi. Họ vừa đi, vừa chạy như những con lật đật. Phía sau những lá cờ trắng, những người dẫn đầu, dân chúng bồng bế nhau. Kẻ gánh người gồng chạy lúp xúp.

Thái đứng hẳn ra vệ đường giơ tay đón:

"Thưa cha, trên rứa răng?"

Ông cha lắc đầu, miệng như đang sùi bọt mép. Một tu sĩ bế một đứa bé bị thương máu chảy nhỏ giọt trên đường, đưa tay xua xua tỏ dấu bảo chúng tôi chạy theo, đừng đứng nguy hiểm. Nhưng ông cũng không nói nổi ra thành tiếng nữa. Ðoàn người cứ thế lần chạy qua mặt chúng tôi, đàn bà bế con, đàn ông gánh gồng, trẻ con chạy lúp xúp. Họ khiêng cả kẻ bị thương nữa. Một người đàn ông bị thương ở chân chạy khập khà khập khễnh, thỉnh thoảng té xuống đất rồi gượng dậy. Có kẻ một cánh tay đang đong đưa chỉ còn dính chút thịt da. Kẻ u đầu, người bể trán, những giọt máu rỏ đuổi theo mấy miếng vải trắng làm cờ đi tìm bình yên đang phe phất dẫn đầu. Ðoàn người vừa chạy vừa kêu khóc vừa cầu kinh, kẻ đọc kinh cầu Chúa, kẻ kêu trời gọi Phật.

Ðoàn người chạy lêu bêu xuống cầu rồi bỗng chạy ngược trở lại, rồi đang chạy ngược bỗng trở lui, tiếp tục về phía trước. Tiếng súng từ phía Phủ Cam vẫn như mưa, vài kẻ yếu đuối chạy cuối cùng cách đoàn người khá xa, họ kêu gào như đang tuyệt vọng sắp chết đến rồi:

"Cha ơi, chờ con. Cha ơi, cứu chúng con. Chúa ôi, quỷ đuổi chúng con..."

Tôi đỡ một người đàn bà vừa ngã sấp xuống mặt đường:

"Lên đây nghỉ đã chị, ở đây chưa đánh nhau, vô đây."

Người đàn bà đã bị thương ở đùi, máu ra nhiều lắm, nhưng vẫn gượng dậy lắc đầu:

"Tui chạy theo cha, chồng tui con tui trong đó mà."

Bà lại chạy. Thái chạy theo:

"Trên nớ còn chi không?"

"Hết cả, hết cả. Ờ, mà còn, còn nhiều người kẹt lại, còn hơn trăm thanh niên đang bị vây không chạy được."

"Họ bị vây?"

"Họ bắn lại, họ bắn lại... Cha ơi, chờ con với cha ơi."

Người đàn bà lại chạy, nhưng đoàn người đã bỏ cách xa bà ta quá. Một tiếng nổ lớn. Tôi lóa mắt. Thái ôm chặt lấy tôi:

"Chạy, chạy chị. Cầm tay em nì."

Thái kéo tay tôi lọt vào xóm. Ðoàn người như tan tác ở đằng xa, rồi qua lớp khói bụi, tôi lại thấy họ chạy tiếp tục.

Khi tôi vào tới nhà thờ họ thì má tôi đang nằm ở mé cửa chờ. Bà nạt tôi một hồi rồi kéo tôi dúi xuống bệ. Như ngày xưa, má tưởng con như ngày xưa còn bé. Tôi chui tọt vào bên trong tìm một chỗ dựa đầu mà không có. Má tôi nằm phía ngoài hỏi vọng lại:

"Nằm yên, con Vân mô rồi. Ðừng có nằm phía ngoài nghe."

Má tôi nói vậy mà bà nằm phía ngoài. Con Thu rỉ nhỏ bên tai tôi:

"Nồi cháo cháy rồi."

Lúc đó tôi không thấy tiếc gì nồi cháo nữa, dù trước đó tôi đã đói cồn cào. Thu lại nói:

"Chị đi đâu làm bác cứ đòi chạy ra tìm, em phải ôm bác lại."

Tôi muốn khóc quá, tôi đưa tay cầm chặt gióng tre kê dưới bệ thờ, chỉ có một khoảng cách ngắn, tôi ao ước cầm bàn tay má tôi mà không được. Trong bóng tối lờ mờ, tôi thấy có đốm lửa nhỏ lóe lên. Chắc Thái đã tìm đâu được điếu thuốc. Nó nói với tôi:

"Hỏi bác hút thuốc không."

Tôi hỏi tìm ở đâu đó thì nó nói:

"Cả bao đầy lận. Em lượm được khi đoàn người đi qua rồi. Chắc ai rớt."

Tôi nghĩ tới những giọt máu rơi vãi ở dọc đường, những giọt máu đó đang kéo dài đến đâu rồi. Bất giác tôi rùng mình. Thu hỏi:

"Chị lạnh hả?"

Tôi lắc đầu, nhưng chắc Thu chả trông thấy gì đâu. Thái đưa cho tôi một điếu thuốc và nói với tôi đưa cho bác hút đỡ lạnh. Ðiếu thuốc chưa kịp đưa đi đã rơi khỏi tay tôi lúc nào. Sợ gây tiếng động, tôi không dám đưa tay sờ soạng nữa. Từ lúc đó tới trưa, chúng tôi không còn dám mở mắt nhìn thấy ánh sáng bên ngoài nữa. Ðại bác câu vào như không còn tính khoảng cách. Trên đầu tôi, xung quanh tôi, tiếng nổ dội như vỡ tung lồng ngực, như bể đôi cái đầu. Má tôi hô mọi người nằm rạp xuống đất. Nằm rạp xuống đất hết rồi cũng chưa được, ôm chặt lấy nhau để có chết cùng chết một đống. Nhưng không, tôi không thể chết một đống được, tôi phải sống để còn trở về với con tôi và dù Sàigon còn hay mất, các con tôi cũng phải sống để chờ tôi về nữa. Ðừng có chết. Cho tôi sống.

Tiếng nổ như bưng tôi vất trong lửa đỏ. Một tiếng, hai tiếng, tiếng nữa. Lạy trời lạy Phật, chưa trúng. Thêm tiếng nữa, quả tim cứ nhảy loạn xạ, cứ muốn tung ra. Ầm, tôi nghe có tiếng nổ lớn mà. Vậy ai kêu chết tôi rồi vậy? Ai khóc như ri ngoài kia vậy? Ầm nữa. Cả mái nhà như sập xuống đầu tôi rồi. Ngực tôi bể rồi, máu tôi đang trổ vòi chảy. Tôi lăn qua lăn lại. Không, tôi chưa bị, tôi còn sống mà. Tiếng khóc bật lên:

"Vân, Vân mô rồi con."

"Chị, chị mô rồi chị."

Cánh tay Thái rồi cánh tay má tôi nữa. Cát bụi trên mái nhà vẫn tiếp tục rơi xuống. Tôi không mở được một tiếng nào. Lần này chắc chết quá rồi, đại bác vẫn không chừa khoảng cách. Người tôi sau tiếng nổ đã không còn sức để run. Thôi, cả nhà chúng tôi, cả mọi người trong ngôi nhà thờ họ này nằm chờ chết.

Nhưng rồi phút kinh hãi đó lại qua. Tiếng súng đã ngưng và rải rác đưa lên các phía xa. Tiếng súng vừa ngưng là có tiếng la khóc. Tôi vụt chạy ra ngoài, má tôi níu lại:

"Con ơi, đừng, đừng đi."

Nhưng Thái cũng ra đến sân rồi, cực chẳng đã, tôi thập thò ở cửa.

Bên ngoài cây cối xác xơ, gạch ngói rơi tứ tung ở sân. Trước mặt khu nhà thờ họ, một mảnh đạn xoáy một hố đất lớn. Mấy cửa kính vỡ toang, tấm bình phong che phía trước bị vạt một góc. Vừa lúc đó Thái chạy vào mặt mày tái mét:

"May quá chị ơi, nhà thờ chỉ bị một mảnh bom phía sau góc, nơi cây đu đủ. Cây đu đủ gãy rụi rồi."

Thái đưa tay chỉ lên mép tường phía sau, ở đó tường đã lở những mảng lớn và ngói trụi hết, lộ một khoảng trời màu xám chì. Sự sống thật tuyệt vời, nếu mảnh bom rơi chếch vào một tí nữa chắc chúng tôi đã xong. Thái kể cho chúng tôi nghe, ở đàng sau, cách hai ba căn nhà bị nguyên vẹn một quả bom rơi trúng. Mấy mái tôn văng ra xa, có tấm văng lên chém gẫy một đọt dừa. Hai ba căn nhà bị sập, mấy người chết. Từ lúc đó tới chiều, chúng tôi không dám bước ra khỏi bệ thờ nữa. Vợ Bé bạo dạn đi nấu được nồi cơm, nhưng tới chiều tối, chúng tôi mới ngồi ăn. Ðang ăn cơm thì nghe có nhiều người chạy loạn từ phía Bến Ngự về, Thái chạy nhanh ra sân. Ðoàn người từ Bến Ngự về chạy thẳng mãi trên miệt đường rầy, duy có hai cha con đói lả không đi được, ngồi bệt xuống vệ đường. Mọi người đưa vào nhà. Người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi, đứa con gái cỡ mười lăm. Sau khi được ăn mỗi người một bát cơm lót lòng, hai cha con tỉnh người lại. Ðứa con gái ngồi nép vào góc bệ thờ, mở đôi mắt như thất thần nhìn ra phía cửa. Một tiếng động nhỏ cũng làm cho con bé ôm chặt lấy cha.

Chờ cho người đàn ông tỉnh táo, má tôi mới hỏi dò:

""Ông ở Bến Ngự về?"

"Dạ, tui ở Bến Ngự."

"Rứa trên Từ Ðàm có ai chạy được không?"

Người đàn ông chưa kịp trả lời, má tôi đã nóng ruột:

"Con trai, con dâu, con gái với một bầy cháu kẹt trên đó."

Người đàn ông nói mà đôi môi vẫn còn lắp bắp:

"Tui ở phía dưới cầu, sát bờ sông lận. Trên Từ Ðàm thì chịu, họ canh gác dữ lắm."

"Không ai chạy được hết?"

"Chắc không."

Tôi nghe tiếng thở dài đầy vẻ tuyệt vọng của má tôi. Người đàn ông vẫn còn ấp a ấp úng, môi vẫn run lập cập:

"Nhà tui không còn một miếng ngói."

Thái hỏi:

"Mần răng bác chạy xuống đây được?"

"Nhà tui chưa trúng đạn cậu, mà tiếng dội cũng bay hết ngói. Hai cha con tui núp trong hầm cả ngày, rứa là nhịn đói gần ba hôm rồi. Khi ngớt tiếng súng, tui bò lên miệng hầm. Ghê quá, dễ sợ quá. Nhà cửa xung quanh sập hết, không còn một bóng người. Vậy là tôi xuống hầm kéo con gái chạy như điên ra khỏi nhà. Tôi đạp không biết bao nhiêu xác người, tôi nghe không biết bao nhiêu lời rên trong đám gạch. Kệ, cha con tui chạy bán sống bán chết tới nơi ni thì hết sức đành ngồi đại xuống đường."

"Rứa giữa đường không gặp họ răng?"

"Thiếu giống. Họ mắc đào hầm, mắc chở người bị thương, nhờ rứa mà mình chạy được. Con nhỏ của tui hắn sợ quá hắn té xuống đường mấy lần, nằm run như lên kinh phong, tui phải kéo đại nó, tay chân nó trợt hết trơn trọi."

"Ông chỉ có hai cha con thôi hà?" Một người nào đó hỏi trong bóng tối.

"Dạ tui còn vợ với thêm mấy đứa nhỏ nữa. Ngày mồng một, mạ con nó về dưới Bao Vinh rồi, về dưới quê. Khổ quá bà con ơi, không biết dưới đó có răng không, vợ con tui mắc kẹt dưới đó rồi."

"Ôi, ai có sức nấy lo. Biết mình có sống không mà lo nữa chớ."

Má tôi hỏi con bé:

"Cháu còn đói không?"

Không nghe tiếng con bé trả lời, người đàn ông nói:

"Bà hỏi răng con không nói? Dạ thưa bà nó sợ quá rồi như khùng. Mấy ngày nằm dưới hầm vừa đói vừa sợ, nó như bị điếc rồi rứa. Thôi, chuyến ni thì chết hết chả còn chi nữa bà con ôi. Tui đi mà đạp lên bao nhiêu xác chết. Ðạn đằng sau, trước mặt. Tui tưởng không tới đây nổi trông thấy bà con."

Người đàn ông như nghẹn ngào muốn khóc. Có tiếng trẻ con khóc, tiếng người đàn bà trẻ cằn nhằn:

"Thôi để tui ngủ ngoài hầm cho rộng, vô đây chật quá thằng nhỏ chịu mô có được."

Tiếng người đàn ông:

"Mả cha mi, chết tới nơi còn cãi. Cha mạ con cái ở một chỗ hết. Có chết chết cả gia đình cho trọn chớ người sống kẻ chết thêm tội."

Người đàn bà thút thít khóc. Bên ngoài, ánh hỏa châu thả sáng cả vòm trời. Tiếng súng lại bắt đầu nổ. Không biết đánh ở miệt nào nữa, vì tôi nghe như miệt nào cũng có súng. Ðêm có tiếng chân đi sàn sạt bên ngoài, mọi người nín thở. Ðứa con gái với người đàn ông vừa tản cư tới ban chiều không có chỗ nào, hai cha con dựa lưng vào bệ xây. Ðứa con gái thỉnh thoảng kêu: Ba ơi, con sợ quá. Người đàn ông vỗ về: Ðừng sợ, không răng mô.

Có tiếng kêu cứu rồi tiếng súng nổ. Thái cầm chặt tay tôi thì thầm:

"Nó ám sát."

Tôi nhớ lại khuôn mặt anh lính giải phóng gác nơi cầu khi chúng tôi đi qua. Một anh lính Bắc Việt ngờ nghệch, anh nhìn ai cũng ra bọn Mỹ Ngụy hết. Anh la hét, cấm đoán rồi cuối cùng mọi người cũng chạy được hết qua cầu. Tôi nghĩ chắc anh không trông thấy gì ngoài đàn ông, đàn bà, con nít chạy loạn, còn bọn Mỹ Ngụy chỉ một đêm nổ súng là chết hết rồi. Tôi nhớ tới một đồn binh trống trơn không một người lính gác. Tôi cũng không nhìn thấy một xác nào vắt ngang hàng rào. Như thế là nghĩa lý gì, đêm đầu tiên không nổ súng không tấn công đồn là gì? Vô lý, bao nhiêu lính trong thành phố đều chết. Người đàn ông tản cư tới hồi chiều vừa cho biết là Việt cộng vẫn chưa lấy được một đồn binh nào, nhưng đồn binh nào cũng bỏ không.

Người đàn ông còn cho biết quân giải phóng như bóng ma, họ ẩn đó hiện ra đó, và trong ba đêm nằm dưới hầm anh tưởng tượng như trên hầm lúc nào cũng có người đi qua đi lại, nhưng khi anh liều chạy lên thì ngôi nhà đổ nát của anh như đã hoang vắng từ lâu lắm.

Ðêm đến, không khí nặng nề đến ngột thở. Thêm một vài người tản cư tới và căn nhà thờ họ như hết cả không khí. Mùi súng đạn đã lan tràn tới nơi. Mà tiếng súng khắp nơi đang dồn về thật. Nửa đêm, vài tiếng kêu thất thanh ngoài ngõ, ngoài bờ sông. Tiếng chân chạy thình thịch. Có cả tiếng đào đất nữa. Tôi không còn biết sợ những xác chết banh đầu cụt tay cụt chân nữa, nhưng trong chút không khí chia sớt nhau trong căn nhà thờ họ tối tăm, tôi có cảm tưởng như mùi tử khí đang lấn dần và nếu ở lại thêm một vài ngày nữa, chúng tôi sẽ chết vì ngộp thở, vì bịnh hoạn.

Ðến sáng hôm sau thì khu xóm này hoàn toàn ngập tràn tiếng súng. Ðạn đại bác câu tới nơi, rồi súng lớn, súng nhỏ. Nằm dưới bệ thờ chúng tôi nghe cả tiếng xe hơi chạy ngoài đường nữa. Thái áp tai xuống đất, cố tìm coi miệt nào đánh nhau. Một vài gốc cây ở ngoài sân bị trúng đạn, ngã gục. Thái đoán chắc đang đánh nhau ở miệt chợ. Có thể đánh ở bên kia sông rồi. Nó bàn đi bàn lại là phải chạy. Có thể đêm nay họ đánh tới khu xóm Tân Lăng này. Má tôi nghe nói thì run lẩy bẩy ôm chặt lấy tôi:

"Mần răng chừ. Má chết đã đành, còn con, con còn hai đứa con, ai nuôi nó con ơi."

Tôi cắn chặt hai hàm răng lại. Trong thành phố này đã bao nhiêu người chết rồi, bao nhiêu trẻ con, người lớn, bao nhiêu bà mẹ bỏ ra đi để con bơ vơ. Nhưng những đứa trẻ đó biết có sống được đến khi dứt trận giặc? Khi ở trong nhà thờ, tôi đã nhìn thấy một số trẻ con cha mẹ bị đạn chết, chạy theo đoàn người di cư. Chúng chạy qua chạy lại ngơ ngác, bị người này nạt, người kia la. Ðói quá, chúng cướp giật của người khác. Nếu tôi chết đi hay nếu tôi không chết mà mất luôn chúng nó?

Hình ảnh người đàn bà ôm xác chết của con đã sình thúi trong ngôi nhà thờ nơi tôi chạy tới mấy ngày đầu đã làm tôi tan nát ruột gan.

Một giờ đồng hồ sau, đợi cho tiếng súng im giây lát là chúng tôi chạy ra khỏi ngôi nhà thờ, mỗi người ôm theo những thứ còn sót lại, xách quần áo, cái chăn Bé lấy được khi ở cung An Ðịnh. Thái chạy ra trước tiên, chúng tôi chạy ra sau. Mấy ngày liền mới trông thấy ánh sáng, dù ánh sáng đã bị ngộp trong làn mưa bụi tẻ lạnh. Khi chúng tôi tràn ra khỏi nhà thì một số người khác cũng tràn ra theo. Hai cha con người đàn ông chạy ra phía bờ sông, Thái vẫy chúng tôi lên miệt đường rầy. Nhưng vừa ra khỏi nhà một đoạn, chúng tôi lại bị vây hãm giữa tiếng súng nổ ran bốn mặt.

Lại đánh nhau. Thái hô mọi người nằm xuống đường. Cứ lăn vào bụi cây, vào mé đường. Chúng tôi nằm dồn đống lại với nhau. Hai cha con người đàn ông nằm xuống. Ðại bác lại câu lên, ình ình khắp bốn mặt. Tiếng súng cũng như vây tròn theo chúng tôi vào giữa. Một ngôi nhà trúng đạn lửa bốc cháy. Trẻ con, người lớn từ trong nhà chạy ra. Lửa cháy lan sang nhiều căn nhà khác, nhiều người nữa chạy ra. Tiếng la tiếng khóc như ri. Phía trước bụi súng mù mịt, phía sau người đàn ông cho biết là đang đụng độ lớn. Chỉ còn nước xuyên qua hẻm, tìm lấy một chỗ núp khá yên ổn hơn. Một quả đại bác nổ ình cách chúng tôi vài chục thước. Chúng tôi như bị chôn trong mảnh đạn và bụi mù. Lạy trời phật, không ai bị hết. Khi khói đã tan, chúng tôi không nhìn thấy hai cha con người đàn ông nữa. Họ đã chạy trước khi quả đạn nổ hay trong khi khói đạn đang bốc mù rồi. Thái hô lớn:

"Cứ chạy đại lại hố đại bác vừa nổ mà nằm."

Người tôi run lên cầm cập, chạy không vững nữa. Kệ. Thái đẩy tôi, tôi đẩy má tôi, má tôi đẩy Bé, và cứ đẩy đằng sau đằng trước. Thái cũng dí chúng tôi xuống hố đất bị đào sâu, còn bốc mịt mờ bụi khói và thuốc súng.

"Nằm đây. Không thể có hai quả rơi một chỗ mô bác. Tụi con đi trận tụi con biết mà."

Câu nói của Thái giúp tôi yên tâm được đôi chút. Nhưng sao người tôi vẫn cứ run lên cầm cập. Gần một tuần lễ. Bộ quần áo vẫn chưa được thay, chiếc áo mặc ngoài đầy những vết máu khô và bắt đầu hôi. Thái lăn người sát cạnh tôi:

"Chị đừng run, chị phải bình tĩnh cho bác đỡ sợ."

Má tôi mở đôi mắt lờ đờ nhìn tôi. Ðôi mắt của sợ hãi, của vẻ tuyệt vọng và sự lo lắng thương mến tôi vô bờ. Tôi bật lên khóc. Lúc này tôi bớt sợ chết thật. Tôi có má bên cạnh, có chết má con tôi cũng nhìn thấy mặt nhau. Có tiếng khóc lóc từ phía xa vọng tới. Tôi mở mắt hé nhìn. Từ trong đám khói lửa, trong tiếng bom đạn ở đằng trước, một người đàn bà và một đứa bé đang đẩy cái xe bò đi đến. Bà vừa đi vừa khóc vừa kêu gào:

"Chúa ở mô. Phật ở mô. Trời ơi."

Trên xe, xác một người đàn ông máu me bê bết đã chết cứng, mắt còn mở trừng. Xác chết không kiếm được một chiếc áo để đắp. Thái nhảy lên khỏi miệng hầm, nó cổi cái áo khoác ngoài màu nỉ sọc đỏ đắp lên mặt người đàn ông. Người đàn bà và đứa nhỏ cứ thế hì hục đẩy chiếc xe về phía trước mặt cũng đang rền vang đạn lửa. Tôi nắm chặt lấy tay má tôi:

"Má."

Tôi chỉ kêu lên được có một tiếng rồi nghẹn ngào. Má tôi vẫn nhìn tôi với đôi mắt lờ đờ đó. Thái nhảy xuống hố, chùi hai tay vào quần:

"Bà đó mần răng cũng chết. Dưới nớ đánh nhau dữ lắm."

Tiếng đại bác vẫn câu lên đều đều. Tôi đoán được một vài tràng súng ở trong những khu vườn bắn ra. Thái đề nghị:

"Chắc lại sắp đánh nhau tới phía ni rồi. Chạy, chạy gấp bác."

Nói xong là Thái nhảy đại lên miệng hầm. Bé bế con cho vợ nhảy lên theo. Thây kệ đồ đoàng, nhiều thứ bị vất lại dưới hố bom. Thái dẫn đầu, Bé đi cuối để dò đường. Chú tôi dắt tay đứa con gái lớn của Bé. Con nhỏ sợ quá đái cả ra quần, hai ống quần sát vào nhau, nó bước không được bị lôi đi sền sệt. Thái một tay xách cái xách quần áo của má tôi, lưng cõng thêm thằng con trai lên ba của Bé. Má tôi ôm cái mền trước ngực như muốn che chở tấm thân gầy ốm của bà. Tôi đi trước má tôi, đằng sau lưng Thái. Chú tôi đi gần sau cùng, vừa đi vừa cằn nhằn. Ông vừa đói vừa sợ chết lại vừa thèm rượu:

"Ði tụm lại như ri nguy hiểm lắm. Chạy mau tìm chỗ núp. Họ tràn tới nơi rồi."

Ở trong các khu vườn, tôi nhìn thấy có đầu người lố nhố. Chắc họ núp dưới hố cá nhân. Những họng súng hờm sẵn trên miệng hố. Những bụi cây sột soạt. Có tiếng nạt nộ ở trong một bức thành đổ nát:

"Chạy mau, chết đến nơi rồi đó."

Lại một giọng nói lơ lớ miệt ngoài. Tôi như bị ma đuổi, chạy bỏ cách khoảng má tôi tới mấy chục bước.
Nhưng không kịp nữa rồi, trận chiến đã kéo tới nơi. Tiếng súng bắn như mưa, chúng tôi bị kẹt giữa hai làn đạn.

"Chạy."

Thái hô lớn. Chúng tôi chạy.

"Nằm xuống."

Chúng tôi lại nằm xuống. Người tôi không còn tự chủ được nữa mà bị điều khiển theo tiếng hô của Thái. Trong trí tôi hầu như đã hoàn toàn trống trơn, sẵn sàng tuân lệnh bất cứ lời sai khiến nào.

"Không xong rồi."

Thái đẩy má tôi, chú tôi, gia đình Bé và Thu vào một ngôi nhà. Nhưng người núp bên trong không chịu mở cửa. Chúng tôi lại chạy, chạy lạc từ khu đang đánh nhau này qua khu đang đánh nhau khác và tôi không còn trí nhớ để nhận ra nơi mình đến là vùng nào nữa. Tiếng súng gần quá, trở lại đằng sau cũng không được, tiến tới nữa cũng không được. Ðoàn người đi trước có nhiều người bị thương đang nằm dẫy chết giữa đường, cạnh những xác chết cũ đã sình to, muốn búng nước. Tôi phải nhảy vào một bụi cây để tránh xác một người đàn bà chết bên cạnh đôi thúng gióng và chiếc đòn gánh còn nằm tựa bên vai. Vũng máu đã khô bong từng miếng trộn với cát bẩn. Bên cạnh những xác người bị banh ngực, bể đầu, cụt tay chân, những cánh tay khúc chân mất biệt như có ai đến đánh cắp. Tôi nghĩ đến đàn chó hoang mấy ngày nay lang thang trong thành phố, nhưng tôi không còn đủ sức để sợ hãi nữa. Bây giờ phải chạy để thoát đã. Một vài người bị thương đang nằm rên rỉ, những cánh tay chờn vờn đưa theo níu lấy ống quần, vạt áo. Những tiếng kêu xin:

"Ðem tôi theo với. Cứu cho với, trời ơi."

Nhưng tôi vẫn đạp qua họ mà đi, nhiều người khác cũng đạp qua họ mà đi. Tôi bị một bàn tay níu lấy ống chân quần. Tôi giựt mạnh, tiếng vải rách soạt. Mặc kệ, tôi phải sống trước đã, dù sống thêm một giây, một giờ hay mấy giờ đồng hồ nữa.

"Chỗ ni nguy hiểm lắm, chắc họ sắp đụng nhau tới nơi rồi."

Thái nói chưa dứt câu đã nghe những tiếng chóc chóc từ trong các khu vườn nã xuống phía bờ sông. Phía sông, từng loạt tiểu liên đại liên nã lên dữ dội. Thái không kịp thêm ý kiến gì nữa. Nó nhảy phóc lên khỏi hố bom:

"Chạy."

Chúng tôi chạy theo. Tiếng đạn từ các vườn dưới mặt sông bắn loạn xạ. Không thể chạy nổi nữa, chúng tôi bò lăn dưới đất.

"Cứ bò tới, cứ lăn lăn tròn, lăn theo con nì."

Thái hô lớn nhưng nghe tiếng được tiếng mất:

"Bác chạy nơi chỗ nớ tề. Chạy ra đằng sau bức tường đó."

Thái cầm chặt tay tôi lại:

"Ðể bác chạy trước chị."

Chú tôi, má tôi, vợ chồng Bé, mấy đứa nhỏ vùng dậy chạy thoát ra phía bức tường. Thái kéo tôi: Chạy mau. Nhưng chóc chóc, hình như một lằn đạn từ sau bức tường bắn tới. Nằm xuống. Thái kéo tay tôi, hai chị em lăn đại xuống đất. Cố bò tới, cái cửa nhà tề. Giữa bom đạn, giữa khói súng, ngôi nhà gạch còn đứng vững, hình như chưa bị một vết đạn nào. Ngôi nhà sừng sững như một phép lạ. Thái khom người giơ chân đá vào cánh cửa. Cánh cửa bật mở dễ dàng. Tôi lao người vào.

Nhưng cái gì thế kia? Tôi nhảy một bước vào bên trong rồi hai chân như bị keo dính chặt, không tài nào cất lên nổi nữa. Tôi đưa tay lên miệng, tôi há mồm muốn kêu. Nhưng tôi như đã chết đứng rồi.

Trước mắt tôi, xung quanh tôi đầy xác chết. Người nằm sấp, kẻ lật ngửa. Người co rúm lại, kẻ đang trợn trừng mắt tay chân khẳng khiu. Những miếng thịt, những vũng máu bê bết khắp nền nhà. Chân tôi không thể bước tới mà cũng không còn chỗ bước lui được nữa.

Không biết nhờ đâu tôi còn được sự phản ứng khi mới bước chân vào nhà. Hình như khi bước chân tôi chưa chạm đất, mắt tôi đã chạm phải cảnh hãi hùng bên trong căn nhà, và một sức mạnh nào đó đã đưa bàn chân tôi bước tránh được những vũng máu. Chỗ đó hình như cũng chỉ vừa cho một bàn chân. Còn một bàn chân chỉ dính hờ xuống chạm gót.

Tôi muốn kêu rú lên, muốn ngã vật xuống ngất xỉu. Nhưng không, tôi còn nhận ra được những vũng máu, những cánh tay, khúc chân, tôi phải cố đứng.

Rồi sự kinh hãi nén chặt quá, dồn từ chân lên đỉnh đầu, từ đỉnh đầu xuống chân, bật dùm tôi được một tiếng kêu lớn. Thái đã đứng sẵn sau lưng tôi rồi. Người tôi bị xốc nổi lên, và Thái vác tôi lên vai, mặc súng đạn, mặc nguy hiểm, chạy như bay ra khỏi căn nhà ghê rợn.

Khi tôi tỉnh dần lại thì Thái cũng vừa đặt tôi xuống đất. Những vũng máu của ai vẫn còn vương vất trước mắt tôi. Không, không phải, tôi dụi mắt, máu thật, máu thành giọt, máu đọng vũng quanh mấy xác chết còn tươi.

"Bác đâu?"

Tôi hỏi Thái. Nó đưa tay lên chùi mặt, vừa nói:

"Góc tường đàng nớ tề."

Má tôi, chú tôi, và Bé chạy lại.

"Trời ơi. Tưởng chị với Thái lạc mất rồi chớ."

Má tôi chụp lấy vai tôi:

"Ngồi xuống, ngồi xuống con."

Mắt tôi hoa lên, tôi thấy những tàng lá xanh trước mặt lây lất rồi xoay tít. Giữa những vòng xoay tít mù đó, như có những giọt máu, những cánh tay, khúc chân ai quay theo nữa.

Nhiều tiếng đạn bay, nhiều tiếng nhà đổ. Tôi nằm lăn ra đất. Cách chỗ tôi khoảng mươi thước, một người đàn ông đang bò tới gần.

"Cứu tôi với, cứu tôi với bà con ơi."

Ngực và cánh tay ông ta máu chảy ròng ròng, tôi lăn sát sát vào Thu. Thu rú lên. Chú tôi bịt miệng nó lại. Người đàn ông lết tới gần dần. Miệng ông không ngớt kêu la. Ông đưa cánh tay đầy máu của ông lên mút, miệng ông đỏ lòm, hai mắt ông trợn trừng. Tôi thấy ông lăn tròn một vòng rồi dẫy đành đạch. Mắt tôi lại hoa lên. Tôi bấm vào tay mình thật chặt rồi úp mặt xuống đất.

Tiếng súng xa dần được một quãng, rồi có tiếng chân chạy thình thịch, tiếng hô lớn. Tiếng chân dội vào tai tôi, như bước cả qua đầu tôi nữa. Tiếp theo những tiếng nổ lách cách, mặt tôi nóng rực. Thái dựng tôi dậy:

"Chạy gấp, không chết cháy chừ."

Tôi níu áo Thái, đạp bừa lên người chết, người sống. Tôi gọi má ơi má hỡi. Tôi nghe tiếng gọi của tôi như tiếng gọi cuối cùng của một con người sắp chết.

"Má đây con ơi."

Tôi nghe tiếng má tôi trả lời, tiếng má tôi khóc nữa. Tôi chưa chết. Tôi vẫn còn nghe, còn thấy, còn sống hẳn hoi mà. Tôi lại tiếp tục chạy.

Tiếng súng bỗng thưa dần. Chúng tôi vẫn chạy. Tôi cứ nhắm sau lưng Thái mà chạy theo. Nhiều bàn tay dưới đất vươn lên với tôi, nhiều tiếng van xin cầu cứu. Tôi cũng muốn la to:

"Ai cứu tôi với đây. Tôi còn sức lực gì nữa."

Cho tới khi tôi xô vào lưng Thái và dừng lại thì cả gia đình tôi đã ngồi xuống bên đường. Tiếng súng đã thưa lắm rồi. Ðại bác cũng ngưng. Tôi mở bừng mắt. Tôi không còn cảm thấy mắt mình hoa lên nữa. Như vậy là lúc nào mình có cảm tưởng sắp chết đến nơi mắt mới hoa. Bây giờ tôi yên tâm sống rồi. Chúng tôi đang ngồi bên đường rầy xe hỏa. Mấy đứa nhỏ vẫn còn nguyên lành đó sao? Tôi ngạc nhiên đếm tới đếm lui. Chừng đó mạng người trong cơn lửa đạn mà vẫn còn đầy đủ. Nước mắt tôi trào ra, nước mắt chú tôi, má tôi, vợ chồng Bé cũng trào ra. Con Thu ôm chặt thằng Cu vào lòng, thằng nhỏ muốn thiếp đi vì sợ hãi. Thái vuốt ve con đường sắt cũ nói:

"Mình theo đường rầy đi về nhà. Ðánh nhau khắp nơi rồi, về nhà đi bác."

"Về nhà họ đánh tới mần răng?"

"Chừ ở mô cũng rứa, ăn thua may rủi bác ơi."

"Liệu nhà có còn không hay tan hoang rồi."

Không ai trả lời được câu này hết. Nhưng chiều hôm đó, trước khi trời tối, chúng tôi cũng lần mò tìm được đường về nhà. Thái nói nhà tôi ở sát quốc lộ dễ xảy ra đụng độ lắm. Cuối cùng, chúng tôi dọn lên nhà chú tôi ở sau đường rầy, gần sát mấy ngọn đồi nhỏ phía chân núi Tam Thái.

Trước đó, để tránh những cuộc pháo kích, Bé đã đào một cái hầm sâu dưới đất, phía trong nhà để trú ẩn. Khi chúng tôi vô, cái hầm được sửa sang lại. Thái và Bé lo đào đất để đổ thêm vào bao chất lên miệng hầm.

Tất cả các ngôi nhà kế cận vẫn im lặng một cách lạ thường. Ngôi nhà sát nhà chú tôi bị một trái hỏa tiễn ngay từ sáng hôm mồng một sập mất một nửa, mấy cây tre ở sau vườn ngả nghiêng sập cả lên sườn nhà.

Chắc không còn ai ở trong xóm hết, tôi nghĩ thế. Nhưng tối hôm đó, Thu phát giác ra có nhiều nhà còn người ở. Nó khám phá ra những chấm đèn dầu nhỏ hoặc những tiếng động nhỏ bé sợ sệt. Cả đêm đầu tiên ngủ trong hầm, chúng tôi nín thở, không dám phát ra tiếng động. Thái nghi những dấu hiệu để báo động, có người trong nhiều nhà chưa chắc là dân chúng trong vùng. Ðôi khi là "họ" cũng nên. Chúng tôi thường dùng tiếng họ để chỉ Việt cộng và để tránh tiếng giải phóng. Thật không gì mỉa mai tàn tệ bằng tiếng "giải phóng" khi nhìn cảnh đau thương tan tành trong thành phố như thế này. Lúc vô con hẻm dẫn vào nhà chú tôi, tôi cũng còn nhìn thấy lá cờ giải phóng rách bươm treo trên một cây ổi trước một ngôi nhà sụp đổ.

Cả đêm, chúng tôi nghe tiếng cú rúc liên hồi. Tiếng cú như tràn khắp bốn mặt như chất chứa một vẻ gì thất thường. Mỗi lần tiếng cú kêu, tôi có cảm tưởng như lưỡi hái của tử thần từ trên bầu trời đen điu đang chém xuống sẵn sàng trúng bất kỳ ai, đồ vật gì.

Gần về sáng, tôi nghe có tiếng chân người ngoài vườn. Tiếng chân rất khẽ, khi gần khi xa. Chúng tôi bấu chặt tay nhau. Bé sẵn sàng đặt tay lên miệng đứa bé nhỏ nhất mới sinh hơn tháng, để sẵn sàng bịt chặt lấy miệng đứa bé lỡ nó la khóc.

Nhìn bàn tay to lớn của đứa em bịt hờ trên miệng đứa bé, lòng tôi bất nhẫn đến đau xót. Chỉ một tiếng chân dừng lại trên miệng hầm, chỉ một lóe đèn pin chiếu xuống và đứa bé chưa kịp ré lên thì bàn tay đã chặt cứng miệng nó. Chỉ vài cái dẫy dụa rồi thôi. Ðêm nay có bao hầm sâu câm nín tiếng khóc trẻ em? Ðã có bàn tay nào bóp mạnh miệng một đứa bé chưa? Và những bộ mặt người lớn vừa xót thương mình vừa bất nhẫn trong một không khí độc địa như sẵn sàng quật chết tươi người.

Nhưng rồi một đêm nữa cũng qua, chúng tôi ngạc nhiên thấy mình còn sống giữa một xóm vắng hiu. Nhưng chúng tôi đã lầm, còn vài nhà có người ở, họ là những ông già, bà già không chạy theo con cháu được, hoặc một vài gia đình sợ quá ở lì.

Sáng hôm sau, tôi nghe nhiều tiếng động, nhiều khuôn mặt ló ra. Ðợi tiếng súng thưa, một bà lão bò sang thăm chúng tôi rồi không dám về nữa. Nhờ bà lão, tôi biết thêm trong xóm mấy hôm nay đầy quân giải phóng và hiện giờ họ đang đào hầm đào hố ở chân núi.

Trong khi sát đó, đồn Trường Bia vẫn đầy lính Quốc gia và nơi ngọn núi sau đồn đã nã đi những trái đại bác lên miền Long Thọ, Kim Long. Má tôi kêu trời là dại quá mới về gần họ. Thái kéo tuột bà lão xuống hầm:

"Ðừng để họ biết mình về."

Nhưng bà lão cả quyết rằng ban ngày họ lên sau đồn hết, họ không biết được. Bà dặn thêm: tuyệt đối không thắp đèn.

Buổi trưa, một gia đình trong xóm tìm về, căn nhà của họ đã sập, họ xin đào hầm ngay trong nhà chú tôi. Bà lão ở mãi cho tới chiều, có đứa cháu nhỏ chạy qua đón về, nhà bà lão chỉ cách nhà chú tôi một cái sân và con đường hẻm hẹp.

Các trận đánh vẫn diễn ra ở xung quanh. Ðêm đến, chúng tôi lại nín thở dưới hầm. Chúng tôi chờ đợi điều may rủi, nhưng điều may thật mong manh, cả nhà đều đói lả nhưng cũng chẳng còn ai đủ sức than thở nữa.

Còn một sự chờ đợi đầy kinh hoàng nữa. Một tiếng nổ mà chúng tôi không kịp nghe, không kịp hay biết gì hết.
Chương 5
Người ở Từ Đàm về kể chuyện

Bốn ngày liền, tôi nằm dưới hầm tối và trong bốn ngày, tôi đã phải nhịn ăn hết hai. Sáng hôm nay, đứa em gái bò lên khỏi hầm lục lọi đâu được khúc bánh tét đã mốc meo. Nó bò xuống, lột lá và cứ đút từ miệng người này cắn một miếng tới miệng người khác.

Tôi đã chán ngán tuyệt vọng lắm rồi. Trước đó vài tiếng đồng hồ, tôi có cảm tưởng cứ nhịn đói như thế này cho tới lúc mệt lả, thiếp đi, rồi đi vào một giấc ngủ vĩnh viễn thì thật là sung sướng. Dù sao cũng sung sướng hơn cõi sống mà chúng tôi đang hứng chịu. Nhưng khi nghe mùi thơm của nếp, mùi mốc của lá, và miếng bánh tét đưa đến gần, miệng tôi bỗng mở ra toác hoác, một niềm sung sướng đến hoan lạc, một hạnh phúc chất ngất khi miếng bánh đã nằm trong miệng.

Nước miếng trào ra và cứ quấn quít ve vãn quanh mùi nếp mịn và thơm ngát đến lịm người.

Không, cái chết thật là tàn nhẫn, không làm cho người ta sung sướng như tôi tưởng. Mặc kệ những tiếng nổ ình ình bên ngoài, mặc kệ tiếng đào xới ngay trên đất, như trên đầu mình, mặc kệ cái ám ảnh anh lính giải phóng trẻ tuổi gác trước cổng nhà luôn luôn đưa mũi súng nhắm quanh sẵn sàng nhả đạn. Miếng bánh trong miệng tôi như một hạnh phúc tuyệt đối mà chỉ có người may mắn nhất, hy hữu nhất, mới được bắt gặp trong đời mình một lần. Miếng bánh càng nhỏ đi, nước miếng trong miệng càng tưới chảy và không dừng được hoan lạc, ham hố, tôi nhai ngấu nghiến. Lúc đó, tôi tỉnh lại đôi chút, tôi nói như rên lên:

"Còn miếng mô nữa không, cho tui miếng nữa."

Cô em gái còn miếng bánh chót định đưa lên miệng, nghe tiếng nói của tôi liền ngừng lại:

"Anh ăn đi."

Tôi nhìn thấy đôi mắt nó hết sức buồn rầu qua ánh nến thắp tít trong góc hầm.

"Ăn đi chứ."

Tôi không kịp đưa tay ra lấy mà chỉ há miệng. Một miếng bánh nữa, một hạnh phúc tuyệt vời nữa tới. Tôi thật sung sướng quá, hai lần hạnh phúc tới chỉ cách nhau trong giây phút.

Lúc này thì tôi tỉnh người lại rồi. Tôi vươn vai, mới biết là xương sống mình nhức mỏi một cách kỳ lạ. Nhưng cùng lúc đó tôi bỗng nghe thấy tiếng đàn hát vọng xuống. Tiếng đàn bầu, đàn tranh, đàn nguyệt và có cả tiếng ngâm thơ nữa.

"Ai đó hỉ?"

Em gái tôi thì thầm:

"Ôn Võ Thành Minh đó."

Võ Thành Minh, con người trào lưu cũ, của thời Phan Bội Châu, Kỳ ngoại hầu Cường Ðể, còn lưu lạc lại giữa thời đại này để chịu chung số phận với thành phố, đã làm gì vậy? Hình như hôm qua, em gái tôi cũng đã thì thầm kể cho cả nhà đang ở dưới hầm nghe về nhân vật kỳ lạ này, nhưng tôi đói lả, tôi có nghe gì đâu. Tiếng đàn lúc này nổi lên thật rõ dù tiếng đại bác vẫn ầm ầm nổ khắp nơi và mọi người trong hầm ôm chặt lấy nhau. Con em gái tôi đeo cứng ở một bên vai tôi và run lập cập:

"Kêu con Trúc xuống chớ má."

Má tôi lắc đầu:

"Kệ nó, ai mà nói nổi."

Tiếng hát tiếng đàn, tiếng ngâm thơ ngưng bặt sau một vài tiếng nổ gần đến nỗi như ngay trên mái nhà, trên đầu mình. Nhiều tiếng hô lớn:

"Xuống hầm."

Ðám người trong hầm nhích chật lại, vài người trườn xuống. Má tôi hỏi nhỏ:

"Con Trúc có đó không?"

Tiếng con Trúc trả lời:

"Con đây nì má."

Tôi nghe tiếng Trúc thì thầm với con Oanh:

"Thằng đó chạy núp trong nhà mình, chắc nó tìm chị."

Con Oanh làm thinh. Tôi đoán con Trúc ám chỉ tên lính Việt cộng gác ở trước nhà. Mỗi lần đại bác câu tới, hắn thường núp trong nhà chớ ít khi xuống hố cá nhân như đồng đội. Ngay khu nhà này có một tổ ba người coi gác và hình như hắn là tổ trưởng. Một người nào đó gắt:

"Khỉ, đừng xì xầm nữa."

Mọi người im lặng, nín thở, những giây phút căng thẳng tột cùng này, chúng tôi đã chịu đựng rất nhiều giờ qua.

Tôi biết ông Minh không xuống hầm chúng tôi. Tôi đoán ông đang núp ở một hầm nào khác. Có tiếng đàn bà khóc. Trúc thì thầm:

"Bà giáo sư Lê Văn Hảo đó. Anh nì, bà nói với em ông chồng bà biết có đánh nhau, trước Tết dặn bà mua mấy tạ gạo để sẵn."

Oanh gắt:

"Kệ mụ, cứ khóc trù trù. Răng ông chồng đi cổ động la hét cho quân giải phóng mà để vợ con chết sợ trong hầm ni rứa. Nghe nói thêm ghét."

Nhưng tôi không ác như Oanh, tiếng khóc của người đàn bà làm tôi càng thương hại. Mấy ngày tôi không dám ra khỏi hầm, sợ mấy anh lính giải phóng biết tôi núp trong hầm này. Kệ, ai bảo tôi hèn thì bảo, tôi lo lấy mạng sống của tôi trước đã.

Tuy kẹt cứng dưới hầm, nhưng chuyện xảy ra trên mặt đất tôi đều được hai cô em gái tường thuật đầy đủ. Nhà bên bác Bảy đã sập, trường tiểu học bỏ không, lính Xây dựng Nông thôn về canh gác mấy bữa Tết đã quăng súng mà chạy. Ở ngã ba nào có cờ giải phóng treo. Ông thợ may già trong xóm bị giết, xác vùi nông trong khu đất trường tiểu học Cộng đồng.

Bà Hảo, vợ ông giáo sư đang vang danh với cuộc giải phóng cố đô Huế, vẫn cả ngày khóc lóc, đi đứng không vững, đeo lấy áo ông Võ Thành Minh. Cả đến lũ con, bà cũng không đủ sức săn sóc nữa. Bao nhiêu hào hùng, bao nhiêu gan dạ, can đảm trong một người đàn bà đã bị ông chồng hút hết rồi chăng. Dù nghĩ vậy, tôi cũng không giận bà.

Khi tiếng súng thưa bớt, tôi lại nghe tiếng đánh máy chữ trên miệng hầm lóc cóc. Chắc mấy anh bộ đội vớ được máy chữ, làm ra điều quan trọng, đánh tờ trình hoặc báo cáo chăng? Không phải, tôi nghe tiếng người già ho húng hắng, rồi tiếng ông Minh gọi:

"Con Oanh mô rồi, lên đây ông nhờ chút mi."

Oanh chui lên khỏi miệng hầm, má tôi kéo lại:

"Ðừng có lên."

Nhưng con bé cứng đầu:

"Hết bắn rồi mà mạ sợ chi."

Nói xong nó đã khuất dạng. Tôi ló đầu lên theo. Má tôi ghì đầu tôi lại:

"Tui lạy anh, anh chui xuống cho."

Nhưng tôi vẫn cứ ló đầu ra khỏi miệng hầm. Bốn ngày, tôi đâu nhìn thấy mặt trời. Tôi thèm một chút không khí bên ngoài, và ao ước được nhìn thấy một ngọn lá cây lay động để còn biết được mình chưa bị cách biệt với sự sống, với cỏ cây, với mọi hơi thở. Dù ao ước vậy, tôi vẫn chả trông thấy gì hết, căn nhà thờ tối lù mù, một ngọn nến nhỏ bị che khuất sau một cái cột lớn. Oanh, cô em của tôi đã bò tới tận góc nhà, nơi ngọn nến lung lay sáng.

Tôi phải dụi mắt hai ba lần mới nhìn quen được mọi vật trong khu nhà thờ. Ông Võ Thành Minh đang ngồi trên một cái ghế bông, trước mặt là một cái ghế thấp kê bàn máy đánh chữ. Ông không đánh máy mà có vẻ ngồi ngẫm nghĩ. Oanh ghé sát mặt đọc gì trên tờ giấy. Tôi cố nhìn ra phía cửa sổ, nhưng không thấy gì hết. Cánh cửa sổ đóng kín mít. Tôi muốn bò lên ghê lắm nhưng tay má tôi vẫn túm lấy vai áo sẵn sàng kéo tôi trở vào.

Có tiếng la thét ở ngoài. Tiếng đập cửa khẩn cấp. Lúc này không đợi má tôi kéo nữa, người tôi chui xuống hầm rất nhanh, rồi chui vào cái kẹt riêng dành cho tôi. Có cái ngách nhỏ này, nếu họ rọi đèn pin xuống hầm cũng khó kiếm thấy tôi. Má tôi nhất định bắt tôi trốn, không để họ trông thấy.

Có tiếng mở cửa ở bên trên, nhiều tiếng chân vào nhà. Con Oanh chui xuống, nó lết lại phía tôi, thì thầm:

"Họ vô đầy nhà."

"Họ có hố cá nhân, vô mần chi?"

"Hết bắn rồi, họ vô nhà lục soát."

Oanh nói chưa hết câu thì tiếng chân đã đi tới miệng hầm. Một ánh đèn pin chiếu xuống, Oanh vói dúi tôi vào vách, kéo mép chiếu trải hầm che lại rồi ngồi tựa lưng vào. Tiếng người ở trên hầm vọng xuống:

"Lên hết trên nhà để kiểm soát."

Tiếng ông Võ Thành Minh hết sức bình tĩnh:

"Cả nhà lên hết đi. Toàn đàn bà con nít mà sợ chi. Lẹ lên đi."

Má tôi chui ra trước, rồi trẻ con, người lớn, bà già đều lên theo. Oanh lên cuối cùng, ánh đèn pin quét qua quét lại mấy lượt. Tim tôi như ngừng đập. Tiếng người trên hầm dõng dạc:

"Còn ai nữa, lên hết đi."

Giọng má tôi run run:

"Dạ hết rồi."

Tiếng ông Võ Thành Minh:

"Không tin mấy anh cứ xuống mà soát. Sợ hơn thì bắn vào một loạt đạn cho ăn chắc."

Tôi lạnh cả người, tay chân cố giữ mà vẫn run lập cập. Nhỡ nó bắn vào thật thì làm sao. Tôi muốn kêu thét lên nhưng tay tôi đã tự bịt kín lấy miệng mình.

"Má ơi, má ơi."

Tiếng kêu thầm trong đầu tôi đầy rẫy tuyệt vọng. Nhưng tiếng cười trên miệng hầm đã giúp tôi yên tâm đôi chút:

"Thôi, đứng sắp hàng lại đi. Anh em ai đó mở giùm cửa sổ cho sáng."

Tôi thở phào, nhưng ngực còn nặng như bị đè bởi tảng đá nghìn cân. Chưa thoát đâu. Tôi nép sát vào ngách hầm. Hơi đất lạnh ngấm vào người tôi buốt giá. Tiếng nhiều người trên nhà lao xao.

"Ðàn bà con nít hết hả. Bà ni răng khóc dữ rứa?"

"Dạ, tui bị lạc mất chồng tui."

"Ði họp hả?"

"Dạ chồng tui là ông giáo sư Hảo."

Giọng ông Võ Thành Minh:

"Chồng chị ni đi lập mặt trận Liên Minh Dân Tộc hay Hòa Bình hòa biếc chi đó mà không chịu đi đón vợ con. Các đồng chí có gặp thì nhắn ông ta về rước vợ rước con để vinh nhục cùng chịu chớ. Ông ham làm cách mệnh chi mà vợ con chết sống không biết rứa."

Giọng tên tổ trưởng nói có vẻ dịu hơn trước:

"A. Vậy ra gia đình này là của giải phóng rồi. Ðồng chí cả mà. Vậy có gì giúp đỡ cho quân giải phóng không?"

"Còn gì, chúng tôi đã đói từ mấy hôm nay rồi."

"Còn gạo không?"

"Các ông tìm mà lấy."

Tiếng một người khác nói:

"Báo cáo đồng chí tổ trưởng, ở góc kia hai bao gạo còn nguyên."

"Anh ghi có mượn ở nhà này hai bao gạo. Ghi vào sổ về sau trả lại và tuyên dương công trạng với mặt trận."

Im lặng vài giây, tôi nghe giọng quen thuộc đó nói tiếp:

"Còn hai cô này phải đi họp, chiều nay hai giờ họp ở Chùa nghe. Ðàn ông xóm này phải đi học tập hết rồi, phụ nữ cũng nên học tập đường lối của mặt trận."

"Chúng nó sợ quá rút gân rồi mần răng đi."

"À, còn cụ. Xin mời cụ đi gặp cấp chỉ huy chúng tôi."

"Cấp chỉ huy mô?"

"Cấp chỉ huy vùng này. Tôi chỉ là tổ trưởng của nhóm ba anh em chúng tôi canh gác quanh khu vực nhà này."

"Rứa hỉ!"

"Cụ đi với chúng tôi. Xin cụ mang theo mười lăm lon gạo."

"Ðem gạo mần chi rứa?"

"Ðem gạo để ăn. Học tập trong ba hôm rồi về."

"Cái chi mà phải học với tập?"

"Lấy cái bị hay cái túi mà đựng gạo. Ðem theo dư ra càng tốt."

"Họp chi mới được chớ?"

"Học tập, đã nói là học tập mà. Mời ông đi theo."

"Tao không đi."

Giọng chắc nịch bất ngờ của ông Minh làm tôi chưng hửng. Chắc từ hôm quân giải phóng tới Huế tới giờ chưa ai dám nói một câu như thế. Tôi thầm lo cho tính mệnh ông. Thấy không ai để ý đến chiếc hầm này nữa, tôi rời khỏi cái ngách nhỏ, ngồi tựa vào thành hầm. Tôi không nhìn rõ mặt tên tổ trưởng nhưng tôi nghe được tiếng hắn cười gằn:

"Ông làm chi cho địch?"

"Ðịch nào?"

"Mỹ Ngụy."

Giọng ông Võ Thành Minh ngạo nghễ:

"Nói gì tầm bậy vậy! Tao mà theo Mỹ, mi về hỏi ông Hồ Chí Minh nhà mi đã dám nói với tao giọng đó chưa. Tao không đi nghe không. Muốn mời tao họp phải có giấy Hồ chủ tịch chớ cái mặt trận giải phóng của tụi bây mà ăn nhằm gì. Tụi bây biết tao là ai không?"

Có lẽ tên tổ trưởng nể ông già gân thật, tôi không nghe hắn nói thêm gì hết. Một giọng khác đỡ lời:

"Bác đi theo chúng cháu tới gặp cấp chỉ huy. Gần đây là bộ chỉ huy mà bác."

"Không đi, muốn nói gì thì kêu cấp chỉ huy của bay lại. Tao ở đây, đây là nhà thờ cụ Phan, tui bây lạ chi mà không biết. Tao sẽ tuyệt thực, xuống ngồi dưới cầu Bến Ngự phản đối lối giải phóng của tụi bay. Tao chống cả Mỹ, cả cộng sản."

Tôi đợi một lúc mới nghe giọng ông nói tiếp:

"Còn bà Hảo, có nhắn chi cho chồng thì nhắn. Nên nhắn hắn về mang đi mà hưởng vinh quang nghe."

Tiếng người đàn bà khóc sụt sùi. Tiếng mấy người giải phóng chào và tiếng chân đi ra. Oanh và Trúc chui xuống hầm trước. Nó ghé sát tai tôi:

"Sợ không?"

Tôi không trả lời, dĩ nhiên là chúng đã đoán được tôi sợ hay không rồi. Dù tôi đã nghe hết cuộc đối đáp ở trên nhưng tôi vẫn cứ bắt Oanh kể lại. Trúc cười nhỏ nói có tên giải phóng mê chị Oanh, hắn nhìn chị chằm chằm. Mấy ngày rồi mà hắn lơ không bắt chị Oanh đi học tập. Việt cộng mà cũng biết mê gái rứa tề.

Trúc cười. Má tôi mắng:

"Ðồ con quỷ sứ. Mi cười chi rứa? Chết tới nơi mà không lo."

Như sực nhớ tới hoàn cảnh, Trúc nín bặt. Oanh kể cho tôi nghe chuyện ông Minh. Nó nói:

"Khi em lên em thấy ôn thắp đèn đánh máy. Ôn viết thư gửi ông Hồ Chí Minh, gửi tổng thống Mỹ, yêu cầu ngưng chiến. Ôn viết : Nhà thờ Phan tiên sinh ngày... tháng... năm... Khi tôi viết thư này gửi tới các ông thì trên đầu tôi máy bay rền rĩ, súng đạn gầm thét long trời lở đất, thành phố Huế chìm trong tiếng khóc than oán hận... Ôn viết rồi ôn xé, ôn đọc cho em nghe, ôn nói ôn kêu gọi cả thế giới nữa..."

"Lúc bình thường không kêu gọi, bây chừ gọi ai nghe..."

Oanh tin tưởng:

"Ê, đừng nói bậy. Ôn định kêu gọi thanh niên sinh viên xuống cầu ngồi tuyệt thực phản đối nữa."

"Phản đối ai?"

"Thì phản đối chiến tranh là vô nhân đạo, là tàn ác, không có chính nghĩa nào ở chiến tranh hết."

Câu nói của cô em gái thật bình dị, ngớ ngẩn như làm tim tôi thắt lại. Mấy hôm nay thành phố có bao nhiêu người chết, bao nhiêu kẻ bị thương. Xác chết sình thúi trong nhà, phơi ngoài đường không ai chôn cất. Rồi những người đi học tập đợt đầu chưa thấy ai về hết. Họ còn sống hay đã chết rồi? Tôi nghĩ mà thương cho ông già thổi sáo bên bờ hồ Genève ngày nào. Ông phản đối việc chia da chẻ thịt cắt đất nước Việt Nam. Nhưng rồi chỉ một mình ông, tiếng kêu trở nên nhỏ bé. Bây giờ tiếng kêu ấy lại cất lên còn yếu ớt thêm biết bao nhiêu nữa!

Một lúc sau tôi lại nghe tiếng lóc cóc đánh máy. Suốt cả ngày, mặc bom đạn, mặc đói khát, ông vẫn cứ ngồi bên bàn máy đánh chữ với ngọn nến mù mờ. Buổi chiều có mấy thanh niên chạy tới trú ẩn, ông cùng với họ đào hầm.

Tiếng cuốc đất thình thịch, tiếng máy bay liệng trên bầu trời. Khi tiếng máy bay vừa đi xa thì lại tiếng đại bác câu tới.

Cứ mỗi lần nghe có tiếng máy bay nào bay tới gần là súng trường, súng tiểu liên, đại liên lại bắn như mưa lên bầu trời. Các anh giải phóng núp ở hố cá nhân kháo nhau là hạ được nhiều máy bay lắm, nhưng kỳ thực tôi chả nghe tiếng động nào gần khu vực tôi ở để có thể tưởng ra có một chiếc máy bay rớt.

Buổi tối, mặc bên ngoài súng bắn như mưa, súng lớn nhỏ nhắm bắn máy bay, mặc trời mưa tí tách lạnh buốt, mặc bom đạn, mặc hỏa châu, ông Minh gọi hết thanh niên lên nhà, ngồi đánh đờn và ca hát. Tôi mặc má tôi năn nỉ khóc lóc cũng chui lên khỏi hầm nhập bọn. Ông Minh thật giỏi, không biết ông thổi được nồi cơm từ lúc nào. Ăn cơm với nước mắm kho mặn mà sao ngon thế, tưởng cả đời mình chưa có bữa cơm nào ngon hơn. Giọng ông Minh vẫn tin tưởng:

"Mình cứ kêu gọi hòa bình, cứ kêu gọi thế giới. Ngày mai tao viết thư gửi nữa. Tao tổ chức tuyệt thực phản đối Mỹ, phản đối Việt cộng, đứa nào dám theo không?"

Mọi người ngồi nhìn nhau, nửa muốn hưởng ứng vì thấy giọng ông đầy hăng hái, nửa muốn phì cười vì đầy tính chất mỉa mai khôi hài. Còn tôi, lúc đó chỉ muốn được yên thân, quốc gia hay cộng sản lúc này chả có tý nghĩa lý gì hết nếu tôi không sống được.

Cả thành phố Huế đang dẫy chết, đang kêu than. Cả thành phố bụi mù bom đạn. Vậy mà những buổi học tập của các anh giải phóng, theo lời các em tôi kể lại thì không còn màn trình diễn nào khôi hài tài tình hơn. Học tập về đường lối đảng, về hòa bình trong lúc bên ngoài sân, sau vườn đầy tiếng kể tội, tiếng hô giết bỏ, thủ tiêu, tiếng rú não nùng của người dân vô tội. Hắn làm công chức? Hắn làm bồi sở Mỹ. Tội nặng chất ngất mây xanh. Giết. Một loạt súng, những xác người dãy dụa với bao nhiêu tội lỗi mà không hiểu, không nhắm mắt được.

Thấy chúng tôi tần ngần nhìn nhau, ông Minh lại nói:

"Tụi bây không đi, tao đi một mình. Tao đi đánh lại cái đơn."

Nhưng rồi ông chưa đánh đơn lại vội. Ông lại bày trò ca hát, đánh đờn. Sợ mà tới khi chết cũng chết. Cứ ca hát, ngâm thơ cho đỡ sợ hãi.

Rồi ông lại đề nghị:

"Ðứa nào có ống sáo không? Tao thổi lại bài hồi xưa tao thổi bên bờ hồ Lơ Man ở hội nghị Giơ Neo."

Chả có anh nào dám mò đi lấy ống sáo cho ông thổi. Cả bọn ngồi sát góc tường dày nhất sát miệng hầm để nhỡ có gì thì chui xuống hầm cho nhanh. Trời bên ngoài mưa rả rích, chúng tôi ngồi sát nhau mà vẫn thấy lạnh run.

Ðại bác vẫn câu lên đều đều. Có tiếng anh chàng giải phóng trẻ tuổi hỏi vọng vào:

"Sao không chui xuống hầm mà đàn hát ồn ào thế? Ðịch nó biết nó thả bom xuống đó."

Chỉ có ông Minh dám trả lời:

"Cả thành phố chỗ nào mà chẳng có bom đạn. Chú em có muốn sống mấy phút cuối cho vui thì quăng súng đi, vô đây ca hát chơi."

Anh chàng giải phóng bên ngoài im bặt. Mấy sinh viên kể chuyện thì thầm về anh chàng này, cho biết mấy hôm nay hắn có vẻ trầm tư lắm. Chắc hắn đã nhìn thấy cảnh máu đổ thịt rơi và động lòng chăng. Ông Minh cười:

"Con người cộng sản làm gì có tình cảm. Chúng nó chỉ có mục đích là thắng, diệt, tiến tới. Tao ở với chúng nó lâu rồi tao biết."

Ông nói thêm:

"Phải nhìn nhận chúng nó tổ chức giỏi nhưng về mặt tình cảm thì bết lắm."

"Vậy ông là người quốc gia rồi."

"Tao không ủng hộ Mỹ, tao không chịu cộng sản. Tao chống lung tung hết."

"Ông chống một mình."

Dưới ánh nến, khuôn mặt ông Minh rắn chắc lại và nổi lên nhiều đường nhăn, ông nhìn về phía bệ thờ cụ Phan. Tiếng súng bên ngoài lại nổ. Họ tấn công chăng? Ðánh nhau chăng? Thà đánh nhau khốc liệt đi để hoặc chúng tôi sống hoặc chết. Cứ ngồi dưới hầm, nghe các em nghe mạ tôi kể lại những người chết bên ngoài tôi như ngồi trên đống lửa đỏ. Tôi cũng không cần biết sự trốn tránh chui nhủi như thế này có hèn không nữa.

Có tiếng động ở cửa hầm, bà Hảo lại bò ra nhìn ông Minh, khóc:

"Ôn ơi, đêm ni coi bộ dễ sợ quá."

Một giọng thì thầm bên tai tôi:

"Không biết ông giáo sư của chúng ta lúc này đang làm gì. Chắc đang họp cách mệnh với cách miệng."

"Ông mà bắt được mày chắc ông chả nhớ tình thầy trò nữa đâu."

Ông Minh dỗ cho người đàn bà đi xuống hầm. Tôi lần mò ra tới cửa nhìn ra ngoài bóng đêm. Bóng đêm nặng nề dầy đặc những bí mật, những đe dọa chết chóc, u uất tử khí. Nhưng tôi cũng hình dung ra được ở góc nào là cái bể nước, ở góc nào là hàng chè tàu, góc nào là khóm mía. Những lá cây đen bóng lung linh như kêu gọi tôi tưởng tượng đến đủ thứ. Giá lúc này tôi được hòa mình vào bầu trời đêm, được đứng trước sân ngẩng mặt lên trời hứng những giọt mưa đầu xuân mát rượi, ngọt lịm. Giá tôi được đi dạo trong khu vườn rộng này một mình như những tối mới trước Tết đây, dạo trong vườn và ngửa mặt nhìn bầu trời đen để tưởng tượng ra khuôn mặt người yêu.

Có tiếng động ở ngoài vườn. Tiếng chân người di chuyển. Chắc các anh giải phóng đang liên lạc với nhau. Khu vườn đất mịn màng trải đầy lá cây khô còn đâu nữa. Tất cả đã bị đào xới thành những hầm hố, hoặc bị cày nát từ lâu vì những mảnh đạn. Một thân cây nào đó trong vườn gẫy mắc qua mắt tôi. Cây vú sữa, cây mãng cầu hay cây nhãn lồng gì đó. Tôi đoán ra sự không còn nguyên vẹn của khu vườn, và ao ước một buổi sáng còn sống để đi ra vườn, đi ra cổng nhìn con đường, nhà cửa quen thuộc.

"Ngày mai tao không thể ở nhà được nữa. Người chết nhiều rồi, tao phải đi tải thương, đi cứu trợ. Tụi bây đi với tao hí."

Tôi không nghe tiếng một cậu nào trả lời hết. Có mấy thanh niên ở trong nhà này, nhờ sự bướng bỉnh cứng rắn của ông Minh mà chưa bị họ bắt đi. Tôi nghĩ tại vùng này vẫn còn ở trong sự kiểm soát của họ, sinh mạng người dân còn chặt trong tay họ, họ chưa ra tay đó thôi. Em tôi kể: họ đem rất nhiều người ở xóm khác về rồi tuyên án thủ tiêu, xử tử ngay tại đây. Những xác chết được vùi lấp vội vàng không có một tấm chiếu để gói.

Ðã đến giờ cú rúc. Tôi đi lùi lại. Ông Minh nói thôi giải tán rồi thổi phựt ngọn đèn. Các thanh niên sinh viên khác về hầm ngủ. Chỉ có ông Minh không chịu ngủ hầm. Tôi thận trọng bò vào hầm, bò qua má tôi, các em tôi rồi nhiều chân người khác nữa mới tới cái ngách hầm, nơi trú ẩn mà đối với tôi lúc này là an toàn nhất. Tôi vừa mệt mỏi, vừa chán nản nên đặt mình xuống là ngủ ngay.

Sáng ngày ra, tôi nghe tiếng lao xao trên miệng hầm. Mọi người đã ra ngoài hầm hết. Tôi định chui ra nhưng má tôi la: Khoan đã. Trúc chui vào báo cho tôi biết từ sáng tới giờ không thấy đại bác câu tới nữa. Quân giải phóng cũng rút lên phía nghĩa địa, chỉ còn một số canh giữ từ dưới cầu lên khỏi dốc thôi.

Ông Minh nói chuyện rất lớn giọng:

"Chắc chúng nó đi tập hợp gì đó."

Một lúc sau Trúc xới cho tôi một bát cơm và dặn đừng có lên. Bên kia trường học, mấy thanh niên bị họ bắt lên trên đó hết rồi. Tôi hỏi mấy thanh niên sinh viên bên kia hầm thì sao. Trúc cho biết họ đã tản mát hết, ông Minh đã lo sẵn chỗ núp cho họ. Tôi nghĩ tới tiếng đàn tiếng hát giữa trưa, giữa đêm. Mấy anh giải phóng gác ở bên ngoài biết tê đi là bên trong nhà thờ có thanh niên trú ẩn. Nhưng tôi cũng chẳng lo lắng lâu hơn nữa vì tôi nghe thấy tiếng lợn kêu và tiếng mọi người lao xao. Một con lợn bị giết. Bữa cơm trưa này chắc sẽ có món ăn ngon. Giữa lúc này mà có một miếng thịt lợn thì thật là may mắn, món ăn cao lương mỹ vị sang trọng quá chừng.

Tôi nhấp nhỏm ở miệng hầm:

"Má, ai mần thịt heo rứa?"

"Khỉ, vô trong đi."

"Thịt heo há má?"

"Bên nhà chị Tính, ôn Tôn mần heo đó. Chút nữa chia một ít kho để dành ăn."

Tôi reo như trẻ con:

"Má nhớ lấy phần ít mỡ kho mặn nghe má."

"Thôi khỉ, vô đi, chết đến nơi mà không lo, ăn với uống."

Tuy nói vậy nhưng má tôi cũng lần mò sang nhà bên cạnh để chia một phần thịt heo. Trưa hôm đó tôi nằm dưới hầm ngửi mùi thịt kho thơm phức muốn ngạt cả mũi. Tôi quên hết mọi khổ ải, mọi lo sợ. Cứ thế này chắc sắp yên ổn rồi. Từ sáng tới giờ thỉnh thoảng có vài tiếng đại bác câu rất xa, như ở phía Trúc Lâm, Tây Thiên gì đó. Xa lắm mà.

Nồi thịt như thấm mặn thật lâu, sự chờ đợi làm tôi bồn chồn cả ruột gan nhưng cũng làm cho tôi thêm phần sung sướng. Trúc hích tôi:

"Anh ngửi mùi thịt mê chưa? Em nghĩ tới lúc miếng thịt... ngon lắm hỉ?"

Tôi chưa kịp phát biểu ý kiến thì Oanh thò đầu vào:

"Ê, họ về đông lắm. Họ đào thêm hầm hố và chia giữ các ngã đường, các vườn."

Trúc trầm ngâm:

"Sáng họ rút rồi mà."

"Họ mang theo nhiều súng đạn lắm. Có cả xe bò chở đạn nữa. Ðậu ngoài ngõ mình a tề."

Rồi giọng nó run run:

"Dễ sợ lắm anh ơi, khi hồi em chui qua nhà ông Tôn coi chia thịt heo với má, thấy có con chó tha khúc tay hay chân chi của trẻ con, nó gặm thịt sống. Thấy rứa em sợ thịt heo quá trời."

Trúc kêu lên:

"Dễ sợ." Rồi nó co người lại: "Rứa mà chị cứ chạy qua ôn Tôn được."

"Mô có. Tao sợ quá tao nhảy lùi lại. Nghe tiếng động, tên lính giải phóng canh ở ngoài chạy vô bồng súng định bắn. Tao sợ quá la lên. Hắn thấy con chó đang nằm gặm xương, hằm hè nhìn, hắn nhăn răng cười rồi hỏi có muốn qua bên đó tui dẹp đường cho. Tao sợ quá làm thinh. Hắn nói: Cô đừng sợ, chắc con chó tha ở đâu đến đó. Rồi hắn cầm đá liệng con chó cong đuôi chạy mất, cái khúc thịt đó còn ở nơi bụi đó, dễ sợ quá chừng."

"Hắn noái chi với chị nữa khôn?"

"Hắn nhìn chị. Chị vừa sợ vừa dị. Dị òm rứa thê. Rồi hắn noái: Cô sợ tui lắm hả? Tao phải noái: Dạ sợ chi mà sợ. Không biết mần răng hắn cũng mần thinh luôn. Rồi lủi đi ra cửa lại. Tao chạy một mạch vô nhà. Khi hồi má bắt tao xắt thịt heo để kho, tao buồn mửa mấy lần."

Oanh vừa nói vừa đưa tay che miệng muốn oẹ. Mùi thịt kho vẫn bay vào quyện lấy mũi tôi, hết sức hấp dẫn. Câu chuyện của Oanh chả làm tôi gớm sợ mùi thịt kho chút nào. Ðã lâu rồi, không ngày nào tôi được ăn no, có ngày nhịn đói nữa.

Oanh cầm tay tôi nói:

"Anh nghe cho coi, họ đào hầm đó."

Tôi nghe tiếng cuốc đất, tiếng chân người đi lại. Tiếng mệ Khái nói đóng hết cửa ngõ. Tôi nghĩ thầm, đóng kín cửa để che người nhưng đâu có che mùi thịt kho. Dám mấy anh giải phóng vào thăm vì mùi thịt kho lắm. Tôi cũng không nghe tiếng ông Minh nữa. Em tôi cho biết ông đã tải cái bị gạo leo xe đạp đi từ hồi sáng rồi. Chúng nói ông đi phát gạo. Một lúc có tiếng người ở ngoài vọng vào:

"Các mẹ giải phóng làm ơn tắt giùm bếp, sợ khói máy bay nó biết nó bắn."

Má tôi cũng là mẹ giải phóng rồi đó. Bếp tắt cái rụp nhưng mùi thịt kho đâu có tắt nổi. Tôi tưởng tượng ra nhiều cái miệng đang nuốt nước bọt xuống cổ. Tôi lại ló đầu ra:

"Má, chín thịt rồi chớ má?"

"Khỉ, vô đi. Ðể cho nó thấm chút đã nào. Con Trúc mô rồi, ra lấy nồi cơm nguội khi hôm ra đây hâm lại mà ăn."

Trúc vừa dợm dậy thì có tiếng hô to ở bên ngoài:

"Xuống hầm hết, máy bay tới."

Khi tiếng hô vừa mới gióng lên tôi vẫn thấy bầu trời êm tịnh, vậy mà liền đó đã có tiếng máy bay ào tới, phút chốc đã ở trên đầu rồi lượn vòng. Chỉ mấy phút sau rốc két bắn xuống như mưa. Mọi người tràn xuống hầm hết. Một con chó mực mắt xanh lè cứ hầm hè muốn chui xuống hầm. Mệ Khái phải cầm con dao liệng kêu cái kẻng, con chó mới chịu chạy ra lối khác.

Tiếng rốc két bắn như mưa, đạn như đang trút xuống đầu chúng tôi vậy. Chúng tôi ôm chặt nhau, người này sát vào người kia như tìm thêm ở nhau chút nương tựa. Có tiếng sụp đổ phía trước, phía sau, có tiếng kêu khóc ở nhà bên cạnh, tiếng hô của các anh giải phóng, cả tiếng thét lên như bị cắt họng nữa. Lúc nẫy, con heo bị chọc tiết cũng kêu lên bi thảm như thế, sao tôi chả thấy gì cả.

Ầm một tiếng. Có nhiều miếng ngói lở, rồi tiếng bụi cát rơi rào rào. Tiếng hô, tiếng gọi nhau của mấy anh giải phóng ở ngoài vườn. Tôi nghĩ chắc họ có nhiều người bị thương lắm. Một lát sau, tiếng súng dưới đất bắn trả kịch liệt. Tiếng đạn từ trên trời trút xuống cấp bách hơn. Tôi chìm đi, tai ù, ngực như nghẹt thở và cứ nằm bẹp dí ở góc hầm, tay chân không còn cất lên được nữa.

Ðộ hai phút sau thì tiếng súng trên trời thưa dần mà máy bay cũng đi mất, chỉ còn tiếng súng dưới đất bắn lên thì vẫn đì đẹt nổ thêm vài phút nữa, cho tới khi có lệnh truyền:

"Ngưng."

Tiếng ngưng đi từ góc vườn này qua góc vườn khác, vang vang trên mặt đất và tiếng súng cũng tắt dần, dồn về vài tiếng lẻ trước khi ngưng hẳn. Má tôi dặn không được đứa nào trồi lên miệng hầm hết. Có tiếng đấm cửa:

"Có ai trong nhà ra công tác giùm."

Tôi đoán chắc lại bắt đi khiêng xác chết, xác bị thương. Má tôi ra dấu cho mọi người im lặng. Nhưng không được, cánh cửa bị báng súng dọng mở toang, nhiều tiếng chân đi vô nhà:

"Tất cả lên khỏi hầm hết."

Má tôi lên trước, rồi tới mấy bà già, mấy chị đàn bà ôm con. Trúc ở lại với tôi, còn Oanh cực chẳng đã phải chuồi lên. Một bà già đưa cho nó đứa nhỏ mới đầy năm, mẹ nó đã chết từ hôm tiếng súng đầu tiên nổ. Oanh bọc kín đứa nhỏ trong tấm khăn bông, run rẩy lên khỏi miệng hầm. Tôi nghe tiếng đàn ông hỏi:

"Ai không có con dại?"

Hình như vài chị đàn bà phải đi. Có tiếng anh chàng giải phóng trẻ tuổi vẫn gác ngoài ngõ nói:

"Cô này mới đẻ dậy, đang yếu."

Vậy là thoát được rồi. Hú hồn cho con Oanh. Một lát sau tôi thấy nó bế đứa nhỏ xuống, tay chân nó vẫn như còn run rẩy. Tôi đỡ đứa bé cho nó và mừng thầm là đứa nhỏ đã ngoan ngoãn không khóc. Tôi nào ngờ nó thiếu sữa, đói lả, không còn sức để khóc nữa. Bởi lẽ ấy, đêm đêm, nhiều khi tôi nghe tiếng trẻ khóc nhỏ, yếu ớt như tiếng mèo kêu.

Tôi hỏi Oanh:

"Chúng nó bắt những ai?"

Giọng tôi hỏi thật nhỏ, nhưng Oanh đưa tay ra dấu ngăn tôi lại. Tiếng chân đi ra khỏi nhà. Vừa lúc đó, tôi nghe như có tiếng xe đạp đỗ ở ngoài sân, rồi giọng ông Minh vào gần dần:

"Răng? Ở nhà có ai bị chi không? Tao lo quá."

Tiếng người đàn bà vợ ông giáo sư Hảo khóc thút thít. Tiếng má tôi tường thuật lại chuyện nhà. Giọng ông Minh vẫn rổn rảng:

"Coi, xuống hầm hết đi, máy bay tới chừ đó. Các nơi nát hết rồi. Chắc quân bên này đang dàn trận vào thành phố."

Tôi lắng tai nghe. Giọng ông Minh hơi nhỏ xuống:

"Tởm lắm. Tao đi từ dưới đường lên đây mà gặp đầy xác chết. Tụi họ không rứa bây. Chết trong hố, chết bên cạnh tường, chết nằm sấp mặt xuống đường. Tao đi từ ngoài ngõ vô đây mà thấy đầy máu. Tao cứ kêu trời: Ôi thôi, xong rồi, ở nhà còn chi nữa. Khi vô nhà, thấy tụi nó đi ra theo lối sau vườn. Răng, không có ai bị thương chớ?"

Tôi ló đầu lên, hỏi:

"Ôn, tình hình bên ngoài ra răng?"

"Tao gặp bọn chỉ huy của chúng nó rồi."

Ông cười, móc ra cái giấy:

"Nó rủ tao ghê lắm, nhưng tao bảo tao chống lung tung hết. Tao không sợ bên nào. Mục đích của tao lúc này là đi cứu thương, đi phát gạo, cứu được ai thì cứu. Cái thằng chỉ huy vùng ni, nó có vẻ khôn lanh lắm. Nó cấp cho tao cái giấy đi đường, đi trong vùng họ kiểm soát lúc mô cũng được. Ðây nì..."

Ông đưa cái giấy về phía tôi. Nhưng má tôi đã nạt:

"Thằng ni thiệt, xuống dưới nớ ngồi không mi? Thôi ôn ơi, hay ho chi giấy tờ quỉ nớ mà khoe. Có nó thêm mệt."

Ông Minh cười đôn hậu:

"Tau đã noái tau là người quốc tế mà. Cộng sản cũng không làm chi được tau, tụi bây thấy khôn?"

Tôi tò mò muốn đọc tờ giấy đó lắm nhưng má tôi đã nhìn tôi gằm gằm. Sợ bà buồn tôi vội chui xuống hầm. Oanh lại thò đầu lên:

"Ôn mần rằng mà tải thương đó ôn?"

"Tau đặt họ lên xe đạp đẩy đi. Nhà thương bỏ hoang rồi, tau đưa đại họ vô mấy trạm cứu thương bắt băng bó. À này Oanh, mi tìm cho tau mấy thằng sinh viên y khoa. Quanh mấy nhà này, tau biết tụi nó trốn thiếu chi. Mi đi liên lạc dùm hỉ?"

"Ông nội con cũng không dám. Ra ngoài cho bị đạn chết hả?"

"Con ni nhát quá, thôi để tau lo."

Tiếng má tôi bỗng la lên thảng thốt:

"Thôi rồi..."

"Chi rứa?"

"Thôi rồi, chết rồi..."

Giọng Oanh hốt hoảng:

"Chi rứa má?"

"Trách thịt kho..."

Tôi không dằn được, tranh với Oanh thò đầu lên khỏi miệng hầm:

"Răng má?"

"Ðổ bể hết rồi, còn chi nữa..."

Tôi nhìn lại phía bếp dầu, ngay trên trần nhà, một mảng ngói bị vỡ, trách thịt bằng đất cũng vỡ, những miếng thịt trộn lẫn với gạch cát nằm lăn lóc. Từ nãy giờ mãi căng thẳng vì nhiều biến cố dồn dập, tôi cũng quên mất hẳn nồi thịt kho. Ðến bây giờ thì thôi hết rồi. Thấy mấy mẹ con tôi tiếc ngẩn ngơ, ông Minh cười:

"Ôi, tiếc chi mấy chút đó. Tau có hái về mấy trái su đây nì. Tau lên thấu trên rẫy chớ chơi mô."

"Ôn lên thấu trên đó. Trời, trên đó ra răng ôn?"

"Thì ai vẫn ở yên nhà đó. Họ đóng hẳn trong nhà dân à nghe. Có mấy cái nhà dưới độn bỏ không, tau thấy mấy dàn su ngon quá. Tau hái được nhiều lắm, phát hết rồi, còn mấy trái đứa mô lấy thì lấy."

Oanh reo lên:

"Ðẹp quá. Trái su đẹp quá."

Tôi chả thấy trái su đẹp đẽ gì. Nồi thịt đã vỡ, nhưng mùi thịt kho vẫn còn phảng phất. Tôi nuốt nước miếng và buồn bã chui xuống.

"Anh tiếc nồi thịt lắm hả?"

"Ờ."

"Em thì chỉ thích yên cho rồi. Mấy bữa, họ nói chỉ ở chơi với dân một tuần lễ, răng họ ở lâu rứa?"

"Ai biết đâu đó, con nhỏ này thật tin người."

Oanh lại nói tiếp:

"Mấy ngày đầu, mấy cô cán bộ tập xe đạp vui quá, mà họ chả biết chi hết anh hí, đồng đội của họ chết rần rần mà họ cứ giỡn hớt vui chơi như không. Mấy hôm đầu, mấy cô nói với em sẽ tổ chức văn nghệ liên hoan nữa, rồi họ tổ chức chi mô!"

"Bắn nhau như mưa rứa mà liên hoan chi."

"Mà họ xử tử người ghê quá anh. Em thấy họ bắn hai học sinh hay sinh viên chi đó trong vườn bác Bốn tề. Ðể em kể cho nghe. Chính cái tổ trong vườn mình bắn chứ ai. Em nghe cái thằng nhỏ nhỏ ngoài cổng hay nhìn em đó, nó noái có xử thì để cấp chỉ huy hay tòa án nhân dân xử, đừng có thủ tiêu. Mấy tên kia nói đồng chí chỉ có tinh thần chủ bại. Rồi họ bắn. Trời ơi, em nhắm mắt."

Oanh nói gì thì nói, tôi vẫn còn tiếc nồi thịt kho. Gần tuần lễ ăn kham khổ bữa đói bữa no, bao tử tôi như đã teo lại. Tôi nằm mọp xuống chiếu miệng sùi bọt mép. Cơn đói lại kéo tới hành hạ làm tôi khổ sở điêu đứng. Con gái nhịn đói thật tài, Oanh và Trúc bữa ăn bữa không mà vẫn tỉnh như sáo sậu. Còn tôi sắp phải thiếp đi rồi đây.

Buổi chiều, khi tỉnh dậy, thấy xung quanh mình vắng ngắt. Mọi người đã bỏ tôi để tản cư đi hết chỗ khác rồi phải không? Tôi hốt hoảng đưa tay sờ soạng, phải lâu lắm tôi mới nhìn thấy chút ánh sáng từ miệng hầm hắt vào, lần lần tôi nhìn rõ bàn tay tôi. Nhưng tôi chưa dám lên tiếng gọi hay bò ra miệng hầm mà yên lặng nghe ngóng. Hình như trên nhà có tiếng bát đũa khua rổn rảng, nhưng không có một tiếng người. Cả tiếng động ngoài vườn ngoài sân cũng vắng nữa. Cố gắng mãi để tập trung thính giác, tôi mới nhận ra tiếng va chạm của đũa bát, chắc cả nhà đang ăn cơm ở trên hầm. Sao không ai đánh thức tôi dậy? Sao cả nhà nỡ để tôi cùng quẫn với cơn đói lả. Không, tôi phải bò lên để cho cả nhà biết là tôi được quyền góp mặt trong bữa cơm gia đình. Tôi mệt lả nhưng cố gượng để bò lên miệng hầm. Tiếng va chạm bát đũa, tiếng nhai nuốt chứng tỏ những kẻ đang ăn uống hết sức thô lỗ. Chắc đã yên rồi và cả nhà đang sung sướng với bữa cơm no nê. Tôi cố bám vào hai bên mép thành đất, ló đầu ra ngoài.

Tôi có nằm mơ chăng? Tôi còn sống hay đã chết đói? Không, tôi không phải là con ma đói, tôi còn sống đàng hoàng mà. Mâm cơm nào bày ra với những khuôn mặt lạ hoắc vậy? Tôi mở lớn mắt nhìn rồi ngã rơi đánh bịch xuống đáy hầm. Tiếng động của chính mình làm tôi sợ hãi tột độ. Họ đã nghe, họ sẽ vào lôi cổ tôi ra và một phát súng sẽ nổ. Cơn đói của tôi tiêu tan đâu hết. Mâm cơm đúng là chén bát của gia đình tôi, nhưng tất cả gia đình tôi và những người trú ẩn trong nhà thờ đang ngồi ở góc nhà, ủ rũ, lo sợ. Năm sáu anh giải phóng đang ngồi ăn cơm ngon lành, không ai nói với ai một lời, họ ăn hối hả như người sắp chết đói vớ được bữa cơm. Tôi nằm lặng đi một lúc không thấy động tĩnh gì thì lại hồn trở lại. Nhưng vừa lúc đó, tiếng máy bay lại ào đến, rồi đại bác câu tới. Tiếng chân của mấy anh giải phóng chạy ra khỏi nhà: Cám ơn mẹ giải phóng. Tiếng một người đàn ông vọng vào rồi chìm trong tiếng đạn rốc kết bắt đầu bắn xuống. Mọi người tràn vào hầm. Trúc lấn gần lại phía tôi:

"Anh mô rồi?"

Tôi trả lời yếu ớt. Oanh nhét cho tôi nắm cơm vắt nói:

"Khi hồi xới cơm cho họ, em lén vắt một vắt dấu trong áo cho anh nì."

Tôi không còn đủ sức để đưa tay ra cầm nữa. Trúc rứt từng miếng cơm đút vào miệng, tôi nhai nuốt vội vàng cùng đống nước bọt còn đầy ứ trong miệng. Dù sao một vắt cơm nhỏ lúc này đối với tôi cũng quý hơn mọi món ăn cao lương mỹ vị ở trên đời. Má tôi lầm bầm:

"Ðang dọn cơm định xuống đánh thức con dậy ăn thì họ vô. May mà con chưa lên. Rứa là phải mời, họ ăn liền."

Oanh kêu nhỏ:

"Ăn rồi cám ơn rối rít, mẹ giải phóng tốt, chị giải phóng tốt, tốt hoài kiểu này chắc chết quá."

Nhưng Trúc bênh:

"Thì ở mô cũng có người tốt người xấu. Cái anh giải phóng trẻ tuổi chả đem cho mình chục lon gạo là chi. Anh lấy mô rứa hè?"

Không ai trả lời thắc mắc cho Trúc. Rốc kết như ném ngay trên đầu. Má tôi đoán chừng:

"Bắn ở đây chắc đạn trút xuống ở Bến Ngự."

"Chắc dưới chợ."

"Dưới đường rầy."

"Xì, hơi mô mà cãi, tới phiên Từ Ðàm bây chừ đó."

"Dưới cầu họ vẫn còn đóng. Khi trưa tui thấy mấy nhà đi tản cư bị họ đuổi lên vừa chạy vừa khóc. Xóm mình có nhiều người bị thương lắm nghe."

"Ôn Minh đi mô hỉ?"

"Ôn lại đi phát gạo, đi tải thương rồi."

"Cái ôn chi thiệt khùng, thời buổi ni, ai có thân nấy lo."

Tôi nằm im nghe máu thấm trong từng mạch nhỏ. Mắt tôi đã hết hoa, tay chân tôi đã hết run rẩy. Tôi bớt sợ rốc kết hơn, nhưng đồng thời tôi cũng hiểu rằng mọi thứ chết súng đạn, hay chết đói khát đều kinh khủng như nhau. Mà gạo trong nhà, mấy anh giải phóng đã mượn khuân đi hết. Tình trạng này kéo dài thêm vài tuần nữa chắc là chúng tôi chết đói hết. Má tôi than thầm với một bà bạn:

"Thời buổi như ri mà ôn Minh còn vác về mấy cậu sinh viên. Có đàn ông trong nhà phiền ghê lắm."

Chắc má tôi lại lo sợ cho tôi. Mọi khi, tôi giận má tôi ghê lắm nếu nghe má tôi phàn nàn như thế, nhưng lúc này, tôi thấy bà nói hợp lý. Oanh thì thầm:

"Ôn đem mấy anh nớ về để đi băng bó cứu thương."

Tôi càu nhàu:

"Họ bắt giết hết cho coi."

Oanh tin tưởng:

"Ôn có giấy của mặt trận để đi đường mà. Còn ôn thì khỏi sợ đi."

Ðúng lúc đó, có tiếng đập cửa. Không biết ai đập cửa mà tim mọi người như ngừng đập. Tiếng rốc kết bên ngoài vẫn ròn rã như mưa. Tiếng đạn từ dưới đất bắn lên vẫn rào rào. Phía này chóc chóc, phía kia tạch tạch. Ðủ các cỡ súng chĩa lên trời. Tiếng đập cửa càng gấp rút hơn, rồi có tiếng la nữa, nhưng chúng tôi không thể nào nhận ra tiếng của ai. Oanh nhấp nhỏm:

"Hay ôn Minh về."

"Suỵt đừng noái. Kệ ai thì ai. Im hết đi, trời ơi."

Tiếng đập cửa vẫn liên tục, rồi có tiếng dộng cửa thình thịch. Trúc cương quyết:

"Ôn Minh về rồi đó, chắc chắn mà."

Không nói thêm một tiếng, nó tuôn chạy ra khỏi hầm. Má tôi níu theo mà không kịp. Bà chỉ biết kêu trời kêu đất. Tiếng mở cửa rồi tiếng chân hai ba người kéo vào, rồi tiếng Trúc kêu rú lên. Tôi hốt hoảng chụp vai má tôi:

"Chết rồi."

Má tôi vùng chạy ra khỏi hầm quên hết mọi nguy hiểm. Nhưng cùng lúc đó, tôi nghe tiếng ôn Minh:

"Mau đem thuốc, đem băng ra đây."

Tiếng Trúc:

"Mần chi còn băng. Kêu mấy anh y khoa hỉ?"

"Mau lên."

Nhiều người nữa đi ra khỏi hầm. Tôi cũng tò mò ngóc đầu lên miệng hầm để nhìn. Trong ánh sáng lờ mờ hắt từ ngoài bầu trời thảm đạm vào, tôi nhìn thấy hai người đàn ông máu me bê bết. Một người mắt còn mở lờ đờ, một người mắt khép như đã chết rồi, anh ta để lộ một mảnh đầu trắng hếu như lòi não.

Tôi hỏi Trúc:

"Ai đó?"

Trúc lắc đầu. Mặt nó tái xanh. Nhưng rồi nó cũng phụ với mọi người băng bó cho hai kẻ bị thương. Máu chảy đọng vũng giữa nhà. Trúc vừa che mặt vừa xé cái áo cánh trắng để làm băng. Ngoài đường, ngoài vườn lại có nhiều tiếng hét lớn. Chắc lại có kẻ bị thương rồi.

Ôn Minh ngoắc tôi lên:

"Lên đây, mắc đánh nhau, họ không vô bắt mô mi sợ."

Tôi lên đứng cạnh hai người đàn ông bị thương. Tiếng rốc kết đã thưa dần, nhưng máy bay vẫn còn lượn thêm nhiều vòng ở trên trời. Tiếng đạn dưới đất bắn lên cũng thưa thớt hơn. Rồi một toán hàng xóm xông vô nhà, họ kêu khóc như ri:

"Nhà tui cháy rồi bà con ơi."

"Thằng con tui chết không mang đi được."

"Ôn Minh ơi, sang đem thằng con nhỏ của tôi qua với. Nó bị kẹt giữa đống gạch rồi."

Ðám đông kêu khóc như ri. Má tôi lại hỏi thăm tin tức bên ngoài. Ôn Minh giao hai người bị thương cho chúng tôi rồi băng ra ngoài cửa. Tôi chỉ kịp kêu một tiếng:

"Ôn..."

Một loạt súng nổ ròn ngay đầu cổng. Thôi rồi, chắc ôn Minh đã bị thương. Oanh đẩy cửa: Ôn ơi, ôn ơi. Nó chạy ra nhưng má tôi đã ngăn kịp. Tiếng ôn Minh nạt nộ ai ở đầu ngõ. Oanh vừa quay vào thì có tiếng đẩy cửa. Người lính giải phóng trẻ tuổi gác trước cổng nhà đi vào. Hắn ôm một cánh tay. Má tôi vội đẩy tôi xuống hầm trước khi hắn nhìn ra kịp.

"Răng rứa, ôn."

"Cháu bị thương. Mẹ giải phóng cho cháu xin chút băng băng lại."

Oanh nhanh nhẩu:

"Hết băng. Mấy hôm ni áo xé băng còn không đủ."

"Coi giùm còn chút thuốc nào không."

Oanh cay chua:

"Vậy các đồng chí cứu thương mô rồi. Các cô nữ cán bộ cứu thương mô rồi. Mấy ngày ni tụi tui chờ họ tới để xin thuốc mà chẳng thấy họ mô hết."

Tôi không nhìn mặt anh giải phóng, nhưng biết hắn đang xúc động hoặc đau đớn lắm vì giọng hắn run run:

"Tôi bị nhẹ, có kẻ bị nặng hơn tôi."

Vừa lúc đó tôi nghe giọng ôn Minh. Ôn bế vào một đứa bé thì phải, tôi nghe giọng trẻ con khóc.

"Con Oanh, con Trúc, lấy áo ra mần băng mau lên."

Tiếng chân Oanh chạy đi. Tiếng ôn Minh nói:

"Ủa, đồng chí cũng bị thương hả? Vô đây chi vậy?"

"Xin ông một chút thuốc, xin miếng vải băng lại."

"Nặng hay nhẹ?"

"Nhẹ thôi mà."

"Khỏi, lấy vôi mà bôi vô cũng sát trùng rồi. Mần chi có thuốc, còn chút thuốc để cứu người khẩn cấp. Bình vôi nơi góc nhà a tề."

Vẫn giọng ôn Minh:

"Nơi góc nhà có đồng chí của anh đó. Tôi đã băng bó xong, anh coi sáng yên thì đem họ về bộ chỉ huy để chăm sóc. Coi khó sống đó."

Thì ra hai người ôn Minh vừa vác về, có một người là Việt cộng. Ôn Minh không phân biệt gì hết, ông chỉ cứu người bị thương. Tôi nghe giọng anh lính trẻ cố thản nhiên nhưng che giấu nhiều cảm động:

"Cám ơn cụ. Bác và Đảng sẽ nhớ ơn cụ."

"Tao hả? Tao không cần Đảng, không cần Bác. Tao chỉ biết hắn là người, hắn đau thì tao cứu. Mả cha nó bắn nhau, giết nhau, chỉ có dân khổ."

Anh lính giải phóng e dè:

"Trong khu nầy có nhiều loại cán bộ, cụ không nên ra ngoài nhiều, lỡ họ hiểu lầm thì phiền lắm."

"Tao hả? Tao người quốc tế mà. Ông Hồ cũng phải nể tao, ông tổng thống Mỹ cũng nể tao, vì tao có chính nghĩa."

Ôn vẫn tiếp tục cười gằn. Tôi không nghe tên lính giải phóng nói thêm gì hết.

Trúc bò xuống cạnh tôi:

"Hết bắn nhau rồi anh."

"Ừ."

"Chết bất loạn. Ðầu ngõ mình cũng có tề. Anh sợ khôn?"

"Tao thấy chi mà sợ."

"Chắc mình phải tản cư. Ở đây mần răng cũng chết."

Tôi không ừ hử. Tôi lắng nghe tiếng động trên miệng hầm. Tiếng mấy người bị thương rên hừ hừ. Tiếng người đàn ông lạ yếu ớt:

"Ðồng chí ở tổ nào?"

"Tổ bốn chín."

"Ðem tôi về bộ chỉ huy được không. Tôi muốn gặp người quen để nhắn ra Bắc."

"Ðồng chí nhắn đi, tôi gửi giúp cho."

Giọng người đàn ông yếu hơn:

"Không, tôi chưa chết. Tôi chưa thể chết được. Ðem tôi về... Tôi muốn..."

Tiếng nói cắt đứt nửa chừng. Ngoài cửa, có nhiều tiếng chân rồi tiếng người lao xao. Tải thương. Giọng ôn Minh: Có cứu mấy người đang bị thương không, tui gửi với.

"Không, chỉ tải thương quân giải phóng."

Tiếng đại bác lại câu lên. Nhưng công việc tải thương vẫn tiếp tục. Thanh niên thiếu nữ bị bắt đi làm công tác. May mắn làm sao, Oanh và Trúc vẫn trốn được. Ôn Minh nhất định không đi, hình như ôn có đưa cái giấy di chuyển trong vùng kiểm soát của quân giải phóng ra dọa. Một lát họ rút đi hết, ôn Minh ra lệnh cho mọi người mới đến tị nạn tìm chỗ dựng hầm. Hết chỗ đào xuống đất, họ dựng hầm nổi. Những cánh cửa được tháo xuống.

Chúng tôi cũng nhất định sửa sang lại căn hầm. Mặc tiếng máy bay, mặc đại bác, trẻ con người lớn ra sân đào đất đem vào đổ cho đầy trên hầm, càng dày càng tốt. Có mấy người bị thương chết, những xác này được đem ra sân chôn, nhưng cứ vừa ra đào là máy bay đến, thấy bóng người dưới đất là rốc kết bắn xuống. Mọi người chạy tán loạn. Mấy anh giải phóng trong các hố cá nhân nguyền rủa om sòm. Họ nổi sùng bắn luôn mấy tràng đạn băng qua đầu đám người đang chạy tán loạn. Không ai nghĩ tới việc chôn xác chết nữa, và cũng không ai còn đủ sức sợ sống bên cạnh những xác người đang bốc mùi, dù có thể chết vì nhiễm độc.

Anh lính giải phóng trẻ đã được băng bó cánh tay. Hắn vẫn gác trước cổng. Ít khi vào nhà, vẻ mặt nghiêm trang. Tôi cảm tưởng cũng nhờ hắn mà Oanh với Trúc khỏi đi tải thương, khiêng đạn.

Quả như lời Oanh đoán, mấy ngày sau không ngày nào là không có máy bay, rốc kết bắn xuống như mưa. Ðại bác mỗi ngày mỗi nhiều. Mấy hôm đầu, buổi sáng, mọi người còn lên được miệng hầm để lấy đồ hoặc chạy ra xách nước. Về sau không ai dám ra ngoài sân, bò lên miệng hầm đã là một điều quá can đảm. Cứ tình trạng này, trong vài hôm nữa, chúng tôi sẽ hết nước và thức ăn khô cũng sẽ hết. Tội nghiệp má tôi, bình thường bà là người gặp chuyện gì cũng quýnh quáng, sợ vỡ mật, vậy mà đến lúc tuyệt vọng bà lại can đảm hơn ai hết. Mặc bom, mặc đạn, má tôi cứ chuồi lên miệng hầm tìm gạo, nấu cơm. Nhiều mảnh đại bác văng vào tường, nhiều mảnh bom chơm rơi xuống mái ngói, chui tọt vào nhà. Má tôi vừa run vừa lết vô hầm. Nhưng rồi sau đó lại bò ra. Má tôi chỉ còn biết sống phút nào hay phút đó để tận lực lo cho con cái.

Ôn Minh đi suốt ngày, thỉnh thoảng ghé về với một ít thức ăn khô chia đều cho các hầm. Ngoài việc tiếp cứu cho mọi người, ôn cũng không quên những người trú ngụ trong ngôi nhà thờ cụ Phan.

Nhiều đêm, chúng tôi bàn đến chuyện tản cư. Má tôi sang hầm bên cạnh, có gia đình ông hiệu trưởng. Ông này ngày đầu đã dám liều lĩnh chở hai đứa con nhỏ và cô em gái từ An Cựu trở về Từ Ðàm. Vợ ông bị kẹt ở đây. Ông suốt ngày cũng chui trong hầm không dám ra ngoài, sợ bị bắt. Mấy ngày đầu, các cô cán bộ hay vô lân la thăm hỏi, nói chuyện với bà vợ. Gia đình này còn một nửa kẹt ở An Cựu và em gái dám đi với ôn Minh, tìm đường dò về phía đó, nhưng không đi lọt. Má tôi bàn với gia đình đó, liệu có cách nào tản cư không. Nhưng cũng như chúng tôi, họ cũng đang ở thế tuyệt vọng. Người vợ ôm đứa con nhỏ khóc rấm rứt. Người chồng hết lo cho số phận mình, lại lo cho bà mẹ và một số người thân kẹt lại ở An Cựu. Tin tức ôn Minh đem về mỗi ngày một bi quan hơn.

Nhiều đêm, tôi đã nằm mơ thấy mình có mặt trong đoàn người tản cư. Ðể tìm một sự sống, chúng tôi cầm chặt áo nhau, đi từng đoàn dài. Chúng tôi qua cầu. Xác chết còn sình thúi đầy đường. Phía bên kia là quân đội Việt Nam Cộng Hòa, phía bên này là giải phóng. Không ai ngăn cản chúng tôi hết. Chúng tôi đi giữa súng đạn, giữa tiếng la thét, rồi cây cầu sập, cả đoàn người theo nhau rớt hết xuống dưới giòng sông. Nhưng cũng không thoát được, dưới lòng sông có bao nhiêu chiếc miệng đỏ hoét của thủy quái há ra, chực nuốt cả đoàn người vào bụng. Tôi hốt hoảng hét lên rồi thức giấc. Mặc dù trời bên ngoài lạnh buốt, cả người tôi mồ hôi vã ra như tắm. Mồ hôi vì sợ hãi, vì mệt và cũng có lẽ vì đói nữa. Nhiều lúc, tôi như đứa trẻ nhỏ đưa ngón tay vào miệng và nút. Tôi nút hoài trong bóng đêm, thấy ngón tay của mình nhạt dần mùi vị. Mùi vị đó tôi biết, mồ hôi và đất bẩn trộn lẫn.

Một ngày rồi một ngày nữa trôi qua. Tai chúng tôi ù đi vì súng, mắt mờ đi vì đói và đầu óc tê liệt vì những tiếng nổ dội ình ình, chung quanh. Nhưng lạ lùng, chúng tôi vẫn chưa ai chết cả. Gạo đã cạn, ôn Minh đem đâu về được mấy bịch cơm khô chia đều cho mỗi gia đình một ít. Chúng tôi nhai cơm khô mà cũng phải hết sức dè xẻn. Khát nước quá, một vài người ra sân lấy nước ở bể cạn. Một vài người chạy không kịp bị mảnh đạn ghim vào người, nhưng may thay, không một ai chết hết.

Chúng tôi không còn ai nhắc tới chuyện tản cư nữa. Ra khỏi miệng hầm là có thể chết rồi, huống chi ra tới sân, tới đường.

Nhưng rồi có một buổi sáng, không biết buổi sáng ngày thứ mười mấy nữa, có tiếng gọi tên tôi ngoài cửa. Mới đầu má tôi ghì đầu tôi xuống, bịt miệng không cho tôi thưa. Nhưng về sau, Oanh nhận ra được tiếng của Bảo, một người em con chú, mò qua nhà tôi được. Oanh lên mở cửa rồi lôi Bảo vô hầm, Bảo nói:

"Răng không chạy đi, họ đi hết rồi mà."

"Răng mi gan rứa. Ðại bác câu như mưa rứa mà qua đây được."

"Thì mình cứ đi liều. Nì, trốn không?"

"Mần răng trốn?"

"Ở đây rồi nó cũng bắt đi. Ði với tôi."

"Ði mô?"

"Mình đi trong vườn, tụi hắn không biết. Mình đi ngã chùa rồi vòng qua phía lầu Ðua ra. Mình về dưới. Chắc được mà."

Má tôi run lẩy bẩy:

"Không được. Ðừng có mạo hiểm."

Nhưng tôi bỗng lóe lên một ý định. Có ở đây thì cũng sẽ chết, liều đi như thế, may ra còn đường sống. Tôi dặn nhỏ Bảo:

"Ðược, đợi tao với."

Tôi an ủi má tôi gần nửa tiếng bà mới chịu để cho đi. Nhưng khi tôi lên miệng hầm với Bảo thì nghe tiếng má tôi khóc thảm thiết như đưa đám ma. Tôi rợn cả người. Bên ngoài là ánh sáng, nhưng tôi có cảm tưởng như bóng tử thần cũng lảng vảng ở đó, đang nô giỡn, thông đồng với những tiếng nổ, những tràng đạn bắn lẻ tẻ khắp vùng. Tiếng khóc của má tôi làm đầu gối tôi muốn xụm xuống. Tôi muốn lao lại vào hầm, nằm gục bên má tôi để có chết cùng chết có sống cùng sống. Nhưng Bảo đã kéo tay tôi. Cánh cửa hé mở và chúng tôi lách ra ngoài. Ánh sáng làm tôi chói mắt. Nhưng tôi đứng sững lại, nơi chiếc bể cạn, cây mai đã gẫy hết nhánh, chắc một quả đại bác đã rơi gần đâu đó, nhưng những cánh hoa vàng vẫn tiếp tục, bên cạnh những cành gẫy, những gạch ngói, những bông mai vàng như những đốm hy vọng gây cho lòng tôi bao tình cảm thiết tha, ham sống.

"Coi chừng!"

Ầm. Một tiếng nổ thật gần. Bảo kéo tôi nằm xuống. Rồi tôi bị Bảo kéo bật dậy, tôi đang chạy theo Bảo hay bị Bảo lôi đi cũng vậy. Khi ngoảnh lại, ngã ba đường Chùa và nhà thờ cụ Phan đã bị che khuất. Nước mắt tôi trào ra. Vài giọt mưa lất phất lạnh buốt bám vào mặt. Bảo vừa lôi kéo tôi vừa thở:

"Mau lên."

"Ngã mô?"

"Lầu Ðua ra."

Tôi không còn thì giờ mà ngắm cỏ cây, nhà cửa đường sá nữa, đại bác câu tới càng dày. Tiếng nổ ình đàng trước, đàng sau, bên hông. Cứ chạy một quãng, cả hai lại nằm xuống. Nằm xuống rồi đứng dậy tiếp tục chạy. Tôi không biết mặt mũi tôi ra sao, nhưng mặt mũi Bảo thì tôi không còn nhìn ra nữa. Quần áo chúng tôi bị đất cát, bụi gai xước rách từng đường dài. Tôi vừa chạy vừa kêu lên:

"Ði là chết. Chắc chết."

Lầu Ðua ra đã hiện ra. Chúng tôi chạy bừa tới, tôi vấp phải nhiều xác chết, nhiều lúc suýt bổ nhào. Chạy còn cách lầu Ðua ra vài chục thước, chúng tôi lại bị bao vây vào giữa tiếng súng lớn nhỏ. Hai bên nổ súng giao chiến. Cố gắng mãi chúng tôi mới vào được lầu Ðua ra. Mắt cá chân chúng tôi ngập máu. Trong nhà toàn xác người. Xác mới có cũ có, xác quốc gia có, việt cộng có. Ngay ở trước nhà, tôi nhìn thấy xác hai người Mỹ trương to bằng con bò. Có điều lạ lùng là hai xác người Mỹ mặc đồ đen như đồ cán bộ xây dựng nông thôn. Nhưng tôi chưa kịp tìm hiểu thêm thì Bảo đã lôi tuột tôi vào trong. Vừa lúc đó có tiếng súng bắn tới. Bảo nhào vào một góc, người Bảo nhuộm đầy máu tươi máu khô. Tôi cũng lăn một vòng và nằm đằng sau mấy xác chết đã sình hôi. Tôi lấy tay che kín mắt, đạn bắn vèo vèo đi qua đầu. Hai bên giao tranh thật ác liệt một hồi rồi lại im. Nhiều tiếng chân đi vào lầu Ðua ra. Tôi nghe có giọng nói:

"Thấy có hai tên chạy vô đây mà."

"Ðồng chí có thấy rõ ràng không đấy?"

"Chắc chắn. Hai tên còn nhỏ. Chắc là liên lạc viên của Mỹ Ngụy. Chúng vừa vô thì súng nổ."

Tim tôi như ngưng đập. Tôi nằm sấp mặt xuống vũng máu khô đầy ruồi nhặng. Mặc, tôi cần đám xác chết này che chở. Có tiếng chân bước qua mấy xác người, rồi tiếng cười gằn:

"Hừ, mấy tuổi ranh đã phản quốc."

Một tiếng súng nổ. Tôi nghe tiếng Bảo la lên. Vai tôi bỗng nhiên cũng đau nhói. Tôi còn kịp nghe một tràng đạn quét ngang mình trước khi ngất đi nữa.

"Bây giờ ông đi đâu?"

"Tui cũng không biết nữa. Tui chạy đại."

Người con trai vừa kể câu chuyện trên nhìn ra phía đường sắt. Tôi hỏi tiếp:

"Anh được tin tức chi trên Từ Ðàm không?"

"Tui bị thương ở lầu Ðua ra, tưởng họ bắt được. May mà tui ngất đi họ tưởng tui chết. Khi tui tỉnh dậy thì Bảo, bạn tui đã bị họ bắt đi rồi. Những xác chết còn ngổn ngang nhưng nơi cửa có treo cờ giải phóng. Tui phải cố gắng mãi mới bò ra khỏi những xác chết. Tui thấy bốn bề im lặng, bên quốc gia cũng không có ai, mà cộng sản cũng không có ai. Tui lần mò xuống Phú Cam. Nhà cửa bỏ trống, dân chúng chạy hết rồi, tui chỉ gặp toàn người chết. Tui theo lối đường rầy mà về đây."

Tôi tưởng gặp người con trai này ở Từ Ðàm về, sẽ biết được tin tức gia đình anh tôi ở trên đó, nhưng rồi cũng mù tịt.

Tôi khuyên:

"Giờ anh nên kiếm xóm nào còn người mà ở với họ. Chúng tôi sắp tản cư nữa rồi."

"Chắc tui qua bên nhà thờ. Nghe nói bên nớ họ tỵ nạn đông lắm."

"Ý đừng qua, họ lục soát bắt hết rồi."

"Thôi tui cứ chạy đại. Nhưng tui phải ở trong thành phố, gia đình tui còn mắc kẹt ở trên nớ. Hai đứa em gái tui nữa."

"Còn ôn Minh ra răng?" Má tôi hỏi.

"Dạ cháu không biết gì nữa."

Chúng tôi nhìn theo người con trai đi trở lui phía đường rầy. Cả đoạn đường vắng tanh không có bóng cả một con vật. Anh đi tới đằng xa rồi mà không quay lại. Tôi hốt hoảng khi nghe tiếng nổ gần mạn đó. Tôi kêu lên, nhưng người con trai đã đi xuống một cái dốc ngắn và khuất sau những bụi cây rậm rạp.

Má tôi thở dài:

"Ở đây chắc chết. Mình phải chạy, trong xóm chạy hết rồi."

Chú tôi chen vào:

"Họ chạy về phía dưới Phú Lương, nghe nói dưới đó yên lắm."

"Phú Lương là phía nào?"

Chưa ai kịp trả lời thì tiếng súng đã tới gần. Tiếng xe chạy rần rần ở phía quốc lộ.

Thái reo lên:

"Quân mình tiến vô thành phố tiếp viện đó."

Bé rành rẽ:

"Cứ ngày tới, đêm rút về Phú Bài. Ðêm họ lại về chiếm, thành thử như không."

Má tôi khoát tay:

"Thì vô hầm đã rồi tính chi thì tính."

Một lát sau thấy có người gồng gánh chạy vô nhà. Thu bò lên hầm rồi kêu:

"Chú Ðịch, không đi được hả?"

"Sang bên kiểu mẫu mà đường không đi được. Bắn nhau dữ quá."

"Chú, chú định đi mô?"

"Về Phú Lương."

Sắp xếp cho gia đình ngồi vào một góc nhà, người đàn ông chủ gia đình hàng xóm chui xuống hầm kể chuyện. Ông ta nói rằng ở bên thành nội họ hoàn toàn chiếm đóng. Có vài người trốn về bên ni được, họ đi bằng đò, nhưng số đi chạy nạn liều lĩnh đó chết hết hai phần ba, đi mười người may ra còn một hai người sống sót. Ông cho biết đang đánh nhau ở Bưu điện. Má tôi hốt hoảng:

"Ðánh bưu điện rồi sắp đánh về bên ni, làm răng chừ hở trời!"

Vậy là đợi cho tiếng súng thưa bớt, cả nhà chúng tôi chui lên khỏi miệng hầm bồng bế nhau đi chạy loạn. Về nhà chú tôi mấy hôm, từ nhà chú tới nhà chúng tôi cũng ở trong khu vực An Cựu, cách nhau có mấy trăm thước mà chúng tôi không dám về qua nhà thăm. Mấy ngày liền ở trong hầm tối, Thái phân chia mọi người lo công việc. Lấy được ít gạo ít nước mắm trong nhà chú tôi thì Thái lãnh những thứ đó. Má tôi vẫn khư khư giữ xách quần áo mà hết một nửa là quần áo của ba tôi, khi chết không liệm hết được. Tôi giữ một xách nhỏ và cái cặp đồ. Vợ Bé gánh một gánh đầy nồi niêu, bát đĩa, gạo cơm. Mỗi người đều có việc đầy tay đầy chân hết và trẻ con thì được dặn dò là cứ bấu theo áo người lớn mà chạy.

Chúng tôi chạy xuống ngả mù u. Ban đầu ai nấy chạy hăng lắm vì tiếng đạn nổi lên ở đằng sau và tiếng máy bay vào thành phố. Nhưng khi đã bỏ xa được tiếng động kinh hoàng đó rồi, chân tôi cơ hồ bước không vững nữa. Má tôi ngồi bệt xuống đường.

Một thanh niên từ phía dưới phóng xe Honda đi lên. Thái vẫy lại:

"Anh đi mô rứa?"

"Nghe nói trên ni có nhiều đồng bào tản cư, tui đi lên coi có ai cần chi giúp đỡ."

Thái vui vẻ:

"Chúng tôi đang cần giúp đỡ. Dưới đó yên không?"

"Yên chớ. Dưới nớ họ chỉ tràn vô ban đêm. Ban ngày ai lo chuyện nấy, có chi mô."

Thái mừng rỡ:

"Vậy bạn chở bác tui một đoạn. Chở rồi bỏ nơi chợ Thùy Dương một, tụi tui xuống bây chừ."

Má tôi vội vàng trèo lên đằng sau xe.

"Bác ôm cho chặt."

Anh thanh niên phóng như bay, chỉ một thoáng má tôi khuất dạng đằng xa. Tôi gắng gượng đứng dậy tiếp tục theo Thái. Dọc đường, tôi gặp không biết bao nhiêu đoàn người đang đi tản cư.

Họ bồng bế nhau, gồng gánh, vừa đi vừa chạy vừa ngoái lại nhìn về phía sau, thành phố đầy tiếng nổ lớn nhỏ.

Một người đàn bà vừa đi vừa khóc:

"Tui thoát được mình tui, tui chạy được tới đây rứa còn chồng con tui sống chết ra răng hả trời? Ra răng đây ông trời?"

Bà nhìn lui thành, nhìn lên ông trời. Ông trời vẫn một màu chì, sẵn sàng chảy thành nước mà không đủ sức chảy. Một chiếc xe bò khác đi lẹt đẹt sau một đám người khoảng chừng mười mấy người. Chiếc xe bò do hai người đàn bà đẩy, trên xe có hai người nằm, họ được đắp bằng chiếc chiếu cũ.

Tôi nhìn thấy bốn cái chân thõng xuống, lòi ra ngoài chiếu, bốn chân đều dính bê bết máu. Chiếc xe không thể đẩy nhanh hơn vì sức lực hai người đàn bà đã hầu kiệt. Một người đàn ông trên vai vác một đứa nhỏ, đứa nhỏ bị thương máu ra gần hết, nét mặt xanh xao đang gục trên vai người đàn ông, ánh mắt mở lờ đờ nhìn theo đoàn người đang chạy đằng sau, như lấy hình ảnh để canh chừng sự sống. Những giọt máu rơi vãi trên mặt đường, những bàn chân khác tràn tới làm nhòe đi hoặc xóa bỏ. Tôi nhớ lại đoàn người cầm cờ trắng đi trong thành phố đạn lửa, đoàn người từ Phủ Cam đi xuống, cha có sư có, người lành lặn dìu người bị thương, người sống còn gắng gượng cổi áo mình đắp cho người chết. Ðoàn người đó lưu lạc về đâu rồi, liệu họ có tìm được con đường để về Phú Lương, Phú Bài như chúng tôi không?

Bất chợt tôi cũng quay lưng lại nhìn thành phố.

Tôi nhìn thấy những ống khói cao mù. Tiếng súng xa dần nhưng hết sức khốc liệt. Tiếng đại bác nổ ình ình, thỉnh thoảng có trái sai tọa độ rớt thật gần đoàn người chạy loạn. Họ nằm cả xuống, còn tôi, tôi bị Thái xô ngã xuống đường:

"Chạy đi chớ chị."

"Chạy thì chạy."

Chạy. Phải chạy. Tìm một con đường thoát.

6 comments:

NhaKyThuat said...

Năm Mậu Tý 2008 là đúng 40 năm sau biến cố Tết Mậu Thân và cuộc thảm sát tại Huế. Đúng vào thời điểm này, sau 17 năm yên lặng làm chủ nhiệm Việt Báo tại quận Cam, nhà văn Nhã Ca lần đầu tiên đã cho tái bản toàn bộ chữ nghĩa bà từng viết về cuộc thảm sát tại Huế Tết Mậu Thân trong ấn bản mới "Giải Khăn Sô Cho Huế". Tiếp theo, như tin đã loan, cùng với vị Đại Sứ VNCH tại Mỹ thời Mậu Thân là ông Bùi Diễm, nhà văn Nhã Ca lên tiếng phát biểu trong lễ Tưởng Niệm 40 Năm sau Mậu Thân tổ chức tại Houston hôm Chủ Nhât 24-2, trước hơn 1000 người tham dự. Được biết gần đây, Chủ Nhật 9-3, tác giả "Giải Khăn Sô Cho Huế" đã là diễn giả chính trong Lễ Tưởng Niệm Tết Mậu Thân tổ chức tại Montreal, Canada. Đặc biệt, Nhã Ca và Việt Báo vừa loan báo là sẽ tổ chức "Hai Ngày Tưởng Niệm Tết Mậu Thân" vào Thứ Bẩy 29 và Chủ Nhật 30 tháng Ba.

Sau đây là cuộc phỏng vấn nhà văn Nhã Ca về các hoạt động kể trên do Đinh Quang Anh Thái thực hiện.

ĐINH QUANG ANH THÁI (DQAT)- Thưa chị Nhã Ca, được biết nhà văn và sách mới "Giải Khăn Sô Cho Huế" vừa tham dự buổi Tưởng Niệm Nạn Nhân Tết Mậu Thân của cộng đồng người Việt ở Montreal. Xin hỏi thăm chị về buổi lễ tưởng niệm.

NHÃ CA (NC)- Thưa anh Đinh Quang Anh Thái, buổi họp mặt tưởng niệm 40 năm Tết Mậu Thân của bà con Montreal được tổ chức vào chiều Chủ Nhật 9 tháng Ba.

Trong hai ngày cuối tuần tại vùng Bắc Canada có trận tuyết dữ nhất trong 8 năm. Tại Montreal, tuyết dầy tới 70 phân tây. Tôi thật xúc động khi thấy lễ tưởng niệm được tổ chức thật trang trọng trong cảnh tuyết giá, quí vị nhân sĩ và bà con cộng đồng Việt vẫn tham dự đông đảo. Chương trình gồm chiếu phim, nói chuyện và cùng nhau góp ý về biến cô Tết Mậu Thân.

ĐQAT- Xin được nhắc lại, khi phát biểu trong buổi lễ tưởng niệm Tết Mậu Thân tại Houston, chị đã nói các nạn nhân chết oan tại Huế bị chôn sống tới 3 lần: lần thứ nhất tại Huế năm 1968; lần thứ nhì bởi sự im lặng của giới truyền thông tại Hoa Kỳ; Và lần thứ ba, là việc mới đây nhà nước cộng sản mở chiến dịch diễn binh, hội thảo, tuyên truyền về cái họ gọi là chiến thắng Tết Mậu Thân để vùi lấp hồ sơ tội ác thảm sát của họ. Ngoài những điều trên, tác giả Giải Khăn Sô Cho Huế còn có điều gì thêm, khi nói chuyện tại Montreal?

NA- Thưa anh, là người tới từ thủ phủ tị nạn của người Việt hải ngoại, tôi mang tới cho bà con Montreal thêm những tin tức mới từ Hoa Kỳ, về những lễ tưởng niệm Mậu Thân tại Little Saigon, tại Houston, tại Paris và nhất là tại Việt Nam.

Tôi nói thêm với bà con Montreal, về ba lần những người chết oan bị chôn sống.

Thứ nhất, khi chúng ta tưởng niệm Huế Tết Mậu Thân, hồn thiêng những nạn nhân bị tàn sát đang ở cùng chúng ta.

Họ không đòi trả thù. Trả thù để làm gì? Huế Tết Mậu Thân, người bị giết và kẻ giết người đều chỉ là nạn nhân của nhiều tầng lừa gạt. Thủ phạm đích thực của nó là chủ nghĩa Cộng sản khủng bố và bọn thủ lãnh thừa sai. Lịch sử nhân loại đã và sẽ tiếp tục chỉ tên: Lê Nin, Sít Ta Lin, Mao Trạch Đông, Pôn Pốt, Hồ Chí Minh...

Họ không đòi trả thù. Những người chết oan đòi công lý và phẩm giá. Những người còn sống sau cuộc chiến oan khiên tại miền Nam đòi sự thật.

Đây chính là điều mà bọn trùm thừa kế thế lực cộng sản trong nước muốn dập tắt.

Bốn mươi năm sau vụ tàn sát Hế Tết Mậu Thân, thay vì nói lời "xin lỗi" theo cách mà người trong nước hiện nay gọi là "văn minh dân sự", nhà nước cộng sản diễn hành mừng chiến thắng trên mồ mả của những người chết oan. Trấn áp, bịt miệng không chỉ dân chúng mà cả những đồng bọn của họ từng nói về sự thật Tết Mậu Thân.

Chính sự sợ hãi trong ruột gan của kẻ gây tội ác đã họ phải làm vậy.

Mười năm trước đây, viên tư lệnh chiến trường kiêm bí thư thành uỷ Huế Tết Mậu Thân là Lê Minh đã phải thú nhận là có giết oan và kêu gọi giải oan. Kế đó, Tổng Thư Ký Cái gọi là Liên Minh Dân Tộc của Huế là Hoàng Phủ Ngọc Từơng phải nói thêm là hành vi giết oan của "quân nổi dậy" tại Huế không gì biện giải được.

Tội ác tàn sát Huế Tết Mậu đã hằn rõ trong ruột gan cộng sản. Họ muốn bịt miệng người sống, xoá bỏ người chết để có thể chạy tội.

Trước Tết Mậu Tí, nhà cầm quyền Việt Nam đã ra đủ thứ đòn dỗ dành, đe doạ để chôn sống vĩnh viễn hồ sơ thảm sát Tết Mậu Thân.

Mọi đòn phép khủng bố thời này đã chẳng làm ai sợ.

Tại Huế, chùa Báo Quốc, chùa Linh Quang, chùa Phước Thành... vẫn công khai tưởng niệm cầu siêu cho những nạn nhân bị thảm sát Tết Mậu Thân. Ngay sáng mùng một tết Mậu Tý, trên tường thành khu mộ ba tầng chôn 428 hài cốt nạn nhân bị tàn sát tại Khe Đá Mài vẫn xuất hiện hàng chữ "40 NĂM BỊ VIỆT CỘNG SÁT HẠI DÃ MAN". Đây là hàng chữ được người Huế viết lên tường ngay trong đêm Giao Thừa.

"Sự Thật Tết Mậu Thân" phải được làm sáng tỏ. Không chỉ trong nước mà ngay tại Hoa Kỳ. Truyền thông thế giới suốt 40 năm qua đã cố tình làm lơ hồ sơ tàn sát Huế Mậu Thân. Nhưng không phải người Mỹ nào cũng vậy.

Cùng ngày giờ giao thừa nguyên đán này, tại Hoa Kỳ, số báo đề ngày 6 tháng 2 năm 2008 của Wall Street Journal có đăng bài viết vạch rõ sự dối trá của truyền thông Mỹ trong vụ Tết Mậu Thân 40 năm trước dẫn tới việc quân dân miền Nam đã chiến thắng mà rồi bị trói tay mang nạp cho kẻ ác.

Đã tới lúc không thể làm ngơ nữa. Sức mạnh của sự thật sẽ phải được lắng nghe. Chính vì điều này mà sách mới "Giải Khăn Sô Cho Huế" được tái bản.

DQAT- Chị Nhã vừa gọi "Giải Khăn Sô Cho Huế" vừa được tái bản là "sách mới". Xin chị cho biết về lần tái bản này, cuốn sách mới có gì khác biệt với sách cũ.

NC- Thưa anh, như mọi người dân của Huế sống sót sau cuộc tàn sát Tết Mậu Thân, tôi luôn cảm thấy như con mắt của những người chết oan đang nhìn theo mình. Đó là những người chết vì bom đạn, chết vì bị cuốc xẻng đập đầu, chết vì bị chôn sống. Là kẻ sống sót, tôi không biết những nạn nhân đang thở mà bị chôn trong đất họ kêu trời kêu đất ra sao, nhưng tôi tin tiếng kêu oan của người chết vẫn âm ỉ trong lòng đất và lòng người, nhắc nhở gì đó cho những người còn sống.

Với tôi, 40 năm trước dđâyy, điều nhắc nhở là phải cầm bút viết. "Giải Khăn Sô cho Huế" đã được viết như thế. Sau cuốn bút ký này, tôi còn viết thêm nhiều truyện ngắn và bút ký khác, in thành tập truyện "Tình Ca Cho Huế đổ Nát", và truyện dài "Tình Ca Trong Lửa Đỏ," viết về tình yêu giữa một cô gái Huế với một chàng lính Bắc tử tế, trong cảnh bom đạn tết Mậu Thân.

Sách mới "Giải Khăn Sô Cho Huế" vừa được ấn hành không chỉ là một cuốn bút ký như cũ mà là cả ba cuốn sách gom lại làm một, gồm tất cả chữ nghĩa Nhã Ca viết về Huế Tết Mậu Thân. Sách khổ lớn, 640 trang, bìa cứng, ấn phí 28 mỹ kim.

ĐQAT- Trên bìa cuốn sách mới in lần này thấy có quode một câu của báo NewYork Time, nói là khi viết chị về Huế Tết Mậu Thân, chị từng bị đặc công cộng sản tại Saigon thời ấy đe doạ, ra lệnh ngưng viết. Sau đó, số phận tác giả và tác phẩm "Giải Khăn Sô Cho Huế" suốt 40 năm qua ra sao?

- Cám ơn anh có lòng thăm hỏi. Đúng như báo New York Times đã viết. Chắc anh còn nhớ thành tích của cái gọi là 'biệt động thành' của cộng sản tại Saigon. Họ đã bắn chết nhà báo Từ Chung khi anh là tổng thư ký nhật báo Chính Luận. Họ đã bắn bể mặt của nhà văn Chu Tử khi anh là chủ nhiệm nhật báo Sống. Và sau đó thì đến phiên tôi nhận thư đe doạ.

Sự đe doạ ấy dĩ nhiên chẳng ý nghĩa gì so với tiếng kêu của những người chết oan.

"Giải Khăn Sô Cho Huế" đã được in lần đầu tại Việt Nam cuối năm 1969.

Năm 1975, ngay sau ngày Saigon bị đổi tên đổi đời, cuốn "Giải Khăn Sô Cho Huế" đã

được treo trong cái gọi là "Nhà Trưng Bầy Tội Ác Mỹ Nguỵ". Các học giả, nhà văn Cộng Sản thì ra cả một cuốn sách mang tên là 'Biệt Kích Văn Hoá' tố khổ 10 tác giả của miền Nam. Trong sách này Nhã Ca là nữ biệt kích duy nhất, được xếp hạng thứ sáu. Những tác giả miền Nam khác là Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Nhất Hạnh, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến... Và sau đó, dĩ nhiên là 'nữ biệt kích' được vinh dự cùng ông chồng và các bạn nhà văn còn ở lại đi tù, nhà cửa bị tịch thu, 6 đứa con nít thì bị đuổi ra đường và đuổi khỏi trường... Báo Công An Saigon còn viết thêm một truyện dài điệp báo rồi in thành sách, làm thành phim mang tựa đề "Vụ Án Hồ Con Rùa," trong đó nhân vật xấu xa "nhà văn tội ác Mỹ ngụy" là tôi được dựng thành một mụ "Xi Ai Ê" lợi hại.

Hình như chỉ cái tên "Giải Khăn Sô Cho Huế" thôi đã là cái gai trong mắt những người muốn gọi cuộc thảm sát Mậu Thân là chiến công. Tôi được biết mới đây thôi, trước khi nhà nước cộng sản ăn mừng chiến thắng, tổ chức diễn binh rầm rộ ở Saigon, rồi mở "hội nghị khoa học về chiến thắng Mậu Thân tại Huế", nhiều người Huế có thân nhân chết oan đã bị công an gọi lên hoặc có người tìm đến tận nhà ra lệnh "muốn sống yên thì im miệng" hoặc phải nói là mọi điều trong sách Nhã Ca là bịa đặt, xuyên tạc.

ĐQAT- Thưa chị Nhã Ca, là chủ nhiệm sáng lập nhật báo Việt Báo tại Hoa Kỳ từ 17 năm nay, xin chị kể về trường hợp tác giả và tác phẩm tại hải ngoại.

- Thưa anh, mấy chục năm qua, tại hải ngoại cuốn sách cũ "Giải Khăn Sô Cho Huế" vẫn được "tự ý photocopy" bán trong các nhà sách, nhờ vậy mà nó vẫn sống sót trong lòng người đọc, dù bị "treo cổ" ở trong nước. Tôi hiểu điều này và thấy chưa cần phải tái bản.

"Giải Khăn Sô Cho Huế" khi được xuất bản tại quê nhà, toàn bộ tác quyền từ sách này được góp vào việc trùng tu thư viện trường Đồng Khánh và lập giải thưởng hàng năm "Luận án Tiến Sỹ Y Khoa xuất sắc nhất" tại Đại Học Y Khoa Huế.

Trước khi bước sang năm thứ 40 năm cuộc tàn sát tại Huế Tết Mậu Thân, có hai chuyện thúc đẩy việc xuất bản sách mới.

Thứ nhất là hơn nửa năm trước đây, tôi có dự một buổi đại hội của Hội Ái Hữu Y Khoa Huế. Tại đây, bất ngờ được nghe nhắc lại giải thưởng "Luận Án Y Khoa Xuất Sắc hàng năm" và nhận hoa từ hai vị bác sĩ từng lãnh giải thưởng này. Trong câu chuyện, nhắc nhau sắp 40 năm, tôi có hẹn ấn hành sách mới "Giải Khăn Sô Cho Huế", và cũng như sách cũ, toàn bộ số tiền tác quyền từ sách tái bản lần này sẽ lại được góp vào việc làm cái gì cho Huế.

Chuyện thứ hai là ngay tại Hoa Kỳ này, cũng mới tháng Năm năm 2007 thôi , phim "Đất Khổ" cuốn phim đặc biệt về Huế Mậu Thân, dựng theo một phần "Giải Khăn Sô Cho Huế" và do chính tác giả Nhã Ca viết đối thoại, lại được công ty sản xuất phim phim Mỹ ra DVD mang bán cho dân Hoa Kỳ với bao phim có nền (cờ) đỏ sao vàng.

Chuyện này được nhà văn Đinh Từ Bích Thuý, giám đốc phụ trách Chương Trình Phim Việt Nam trong Liên Hoan Phim Á Mỹ ở vùng Hoa Thịnh Đốn, kể trên tạp chí văn chương Da Màu trên mạng. Sách mới "Giải Khăn Sô Ra Mắt" và báo xuân Việt Báo năm nay có lên tiếng giảng giải và phản đối vụ "cắm cờ oan khiên" này. Điều được an ủi là sau khi vấn đề được nêu lên, hãng Mỹ đã nhanh chóng dẹp bỏ bao bìa có hình là cờ máu, để thay bằng bao bìa mới có hình cờ vàng và bản đồ Việt Nam. Có bạn bảo tư bản Mỹ sửa sai nhanh chóng hơn Việt Nam. Tôi thấy thêm: Phải nói lên đầy đủ sự thật, phải đòi hỏi và thuyết phục, thì mới có thay đổi.

Chính từ nhận thức này, với sự hỗ trợ từ nhiều hội đoàn đồng hương và giới truyền thông, Việt Báo đã quyết định tiến hành dự án mang tên là "Sự Thật Tết Mậu Thân 68". Dự án này sẽ chính thức khởi sự bằng "Hai ngày Suy Niệm về Sự Thật Tết Mậu Thân" tại Việt Báo Gallery Thứ Bẩy 29 và Chủ Nhật 30 tháng Ba sắp tới. Chi phí khởi đầu để thực hiện dự án là toàn bộ tác quyền của sách "Giải Khăn Sô Cho Huế".

ĐQAT- Xin chị cho biết thêm về chương trình "Hai Ngày Suy Niệm" và dự án "Sự Thật Tết Mậu Thân 68".

Mục đích của dự án "Sự Thật Tết Mậu Thân 68" là sưu tập mọi tài liệu, hình ảnh liên quan tới hồ sơ Tết Mậu Thân, kêu gọi những nhân chứng Mậu Thân còn sống kể ra từng chi tiết sự việc, ghi chép bằng âm thanh, hình ảnh, chữ nghĩa, thành lập một thư khố về vụ thảm sát Mậu Thân. Sau đó là tổng hợp, nghiên cứu mọi yếu tố lịch sử, pháp lý, thực hiện công trình phiên dịch, biên tập và ấn loát đúng mức. Công trình ấy sẽ thành những cuốn sách đủ tầm vóc, Việt ngữ, Anh ngữ và dành lại vị trí xứng đáng cho sự thật lịch sử.

Chương trình hai ngày suy niệm tại Việt Báo Gallery sắp tới sẽ gồm lễ tưởng niệm, triển lãm hình ảnh, thuyết trình và hội thảo, văn nghệ tưởng nhơ.

Ngày thứ nhất sẽ khai mạc vào lúc 2 giờ chiều Thứ Bẩy 29 tháng Ba: Lễ Tưởng Niệm và triển lãm hình ảnh, sau đó là thuyết trình hội thảo, về Sự Thật Tết Mậu Thân. Thuyết trình đoàn là những vị đã trực tiếp tham dự biến cố Tết Mậu Thân 1968:

Đến từ Houston, Đại tá Hà Mai Việt, nguyên tỉnh trưởng Quảng Trị, Trưởng phòng ba, Quân đoàn I, Vùng 1 Chiến thuật, sẽ trình bày về bối cảnh quân sự của vụ tổng tấn công Mậu Thân 68.

Đến từ Virginia, Trung tá Trần Ngọc Huế, sĩ quan Hắc Báo của Sư đoàn 1 lừng danh trong trận Mậu Thân tại Huế, sẽ trình bày về 24 ngày chiến cuộc tại Huế.

Đến từ Maryland, Đại sứ Bùi Diễm sẽ trình bày về ảnh hưởng của Mậu Thân 68 vào chính trường Hoa Kỳ qua lối tường thuật của truyền thông Mỹ.

Sau phần thuyết trình là phần hội luận giữa các diễn giả với sự điều hợp của bình luận gia Nguyễn Xuân Nghĩa.

Ngày thứ hai sẽ là Chủ Nhật 30 tháng Ba, từ hai giờ trưa, là sinh hoạt tưởng niệm, ca nhạc, đọc thơ, kể truyện với sự tham dự của Khánh Ly, Thanh Lan và nhiều bằng hữu văn nghệ sĩ...

Nhã Ca và Việt Báo trân trọng kính mời quí vị quan tâm tham dự . Và mời anh Đinh Quang Anh Thái...

DQAT- Cám ơn chị Nhã Ca, xin chị thêm lời kết về tâm tình của tác giả Giải Khăn Sô Cho Huế.

- Rất ngắn thôi, thưa anh. Trong lời tác giả cho lần in sách mới "Giải Khăn Sô Cho Huế" tôi có viết là nhân 40 năm tưởng niệm Huế Tết Mậu Thân, thêm một lần, mong cuốn sách này được coi như một bó nhang đèn góp giỗ. Góp cho ngày giỗ thầm lặng trong lòng Huế. Và góp cho một ngày giỗ tương lai tại quê hương, nơi từng biết thế nào là ăn ở tử tế với người sống, người chết, như từng biết thế nào là văn hoá lịch sử./.

Đinh Quang Anh Thái

NhaKyThuat said...

..Cái đầu nào ngóc lên bị đập bằng cuốc... Bạn tôi, chị Tâm Tuý cũng đã bị chôn sống...

(Bài nói chuyện tại buổi 40 Năm Tưởng Niệm Tết Mậu Thân, Viet Bao Gallery, Thứ Bẩy 29-3-2008.)

Kính chào quí vị,

Cám ơn tất cả quí vị đã vì những oan khiên của Tết Mậu Thân mà mà bỏ công tới đây.

Xin cho phép tôi ôn lại nỗi đau chung.

Thưa quí vị,

Bốn mươi năm trước đây, đúng vào giờ trưa mùng Hai Tết, tại Cửa Đông Ba Huế, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau khi đột nhập, cộng sản khai diễn cuộc tàn sát.

Toán nạn nhân đầu tiên gồm 5 thường dân -không hề có người lính Cộng Hoà nào. Tất cả bị trói, bắt đứng quay lưng vào tường thành. Dân chúng đứng coi. Súng AK nổ. Từng người gục chết. Sau cuộc hành hình, thân nhân những người bị bắn nhào ra muốn ôm xác. Họ bị đánh, bị đá, bị đuổi. Xác người bị phơi ngày phơi đêm. Nắng. Máu. Ròi bọ...

Và cuộc tàn sát tiếp tục. Không bằng súng đạn mà bằng cách chôn sống.

Những nạn nhân bị cột trói bằng dây điện dính chùm xếp hàng bên hố. Một vài người bị đập đầu. Cả dây người đang sống bị đạp xuống hố đè lên nhau. Cái đầu nào ngóc lên bị đập bằng cuốc. Cứ thế mà chôn hàng ngàn người. Bạn tôi, chị Tâm Tuý cũng đã bị chôn sống. Khi xác đào lên, thấy hai tay chị vói lên như đang cố cào bới đất. Móng tay, móng chân mọc dài hơn. Tóc mọc dài hơn... Bạn tôi bị chôn sống khi còn đầy sức sống.

Huế Tết Mậu Thân. Hàng ngàn người đã bị chôn như thế.

Họ còn bị chôn lần thứ hai, bằng sự im lặng đồng loã của truyền thông Hoa Kỳ. Thời ấy, truyền thông Mỹ phản chiến muốn Mỹ rút quân. Tội ác Cộng Sản họ không muốn khui ra. Chiến thắng lớn lao của quân lực Việt Nam Cộng Hoà và đồng minh, họ cố ý dập xoá. Dân Mỹ bị che mắt. Chính quyền Mỹ mỏi mệt. Kết quả là kẻ ác không đáng thắng đã thắng.

Và rồi, mới đây thôi, Huế Tết Mậu Thân vừa bị chôn thêm lần thứ ba, bởi nhà nước cộng sản, bằng lễ lạc, diễn binh, diễn hành mừng chiến thắng trên mồ mả của những người chết oan. Họ muốn bịt miệng người sống, xoá bỏ người chết, đánh tráo lịch sử, nguỵ tạo một chiến công giả để chôn sống một tội ác thật.

Thưa quí vị,

Bốn mươi năm. Ba lần bị chôn sống. Chừng đó đủ rồi.

Đã tới lúc phải làm sáng tỏ toàn bộ "Sự thật Tết Mậu Thân".

Không để lịch sử tiếp tục bị đánh tráo.

Không để tương lai tiếp tục bị phỉnh gạt.

Không để con em chúng ta phải học, phải đọc những điều gian dối về cha anh của chúng.

Đó là những nhắc nhở, thúc giục của cả người chết lẫn người sống.

Mới chiều hôm qua, có đôi bạn nam nữ trung niên tới toà báo mua sách,

thấy Việt Báo Gallery đang treo ảnh triển lãm hình ảnh thảm sát Tết Mậu Thân, họ ghé qua coi. Người đàn ông chừng 47, 48 tuổi kể chuyện sau khi các hầm chôn người Tết Mậu Thân đã được đào lên làm đám tang tập thể. Ông bảo có một hình ảnh của Huế mà đến chết tôi cũng không thể quên. Đó là hình ảnh người ta tay cầm những bó đuốc cháy rực lửa, chạy như điên trong thành phố, vừa chạy vừa gọi tên người thân. Có người la khóc, có người đập bó đuốc vào thân cây, bờ đá. Ông khách nói lúc đó tôi còn nhỏ, nhưng đã nghe người lớn bảo đó là người ta đi "sai vía" tức là đi gọi hồn. Hồn những người chết oan không biết đường về nhà. Phải gọi hồn về cầu cúng. Đông lắm. Đuốc nhiều lắm. Ở khắp thành phố đâu cũng có.

Dân Huế từ thời sau 75, không còn đuợc phép có chung một ngày tưởng niệm nạn nhân Tết Mậu Thân.

Đã bốn mươi năm. Những người Huế chết oan, hồn ở đâu bây giờ?

Tôi không biết người kể câu chuyện trên hôm nay có trở lại đây không.

Tôi mong có ông trong chúng ta.

Trong phòng này không có đuốc gọi hồn, nhưng có lửa. Lửa trên những ngọn nến tưởng niệm. Và lửa trong tấm lòng của quí vị tham dự.

Tôi mong là khi tưởng niệm Tết Mậu Thân ở đây ông cũng thấy như tôi, là hồn thiêng những người chết oan đang ở cùng chúng ta.

Chỉ ít phút sắp tới, cuộc thuyết trình, hội thảo về Tết Mậu Thân sẽ được bắt đầu. Đây cũng là bước khởi đầu của một dự án sẽ liên tục thực hiện suốt năm 2008. Mục tiêu của dự án là sưu tầm tài liệu, hình ảnh liên quan tới trận chiến Tết Mậu Thân, kêu gọi những nhân chứng sống kể ra từng chi tiết sự việc, ghi chép bằng âm thanh, hình ảnh, chữ nghĩa, thành lập một thư khố về vụ thảm sát Mậu Thân. Sau đó là tổng hợp, nghiên cứu mọi yếu tố lịch sử, pháp lý, thực hiện công trình phiên dịch, biên tập và ấn hành một hồ sơ lịch sử về tội ác cộng sản, mang tên "Sự Thật Tết Mậu Thân 68."

Để có thể tiến hành dự án, sẽ cần nhiều công sức, phương tiện. Chính vì mục đích này, sách mới Giải Khăn Sô Cho Huế đã được ấn hành để trình diện quí vị. Toàn bộ số tác quyền thu từ sách này sẽ được góp vào quĩ khởi đầu cho dự án kể trên. Rất mong được quí vị tiếp sức.

"Sự thật Tết Mậu Thân" là chứng tích cho công lý và lương tâm Việt Nam.

Chương trình thuyết trình, hội thảo. suy niệm về "Sự Thật Mậu Thân" sắp bắt đầu.

Kính chào quí vị.

NhaKyThuat said...

riển Lãm, Hội Thảo, Văn Nghệ “Sự Thật Tết Mậu Thân 1968” - Diễn Giả: Đại Tá Hà Mai Việt, Trung Tá Trần Ngọc Huế, Đại Sứ Bùi Diễm Việt Báo Thứ Hai, 3/31/2008, 12:02:00 AM

Ba diễn giả của hội thảo về trận Mậu Thân, từ trái: Đại tá Hà Mai Việt, Đại sứ Bùi Diễm, Trung tá Trần Ngọc Huế hôm Thứ Bảy 29-3-2008 tại Việt Báo Gallery

WESTMINSTER (Cổ Ngưu) -- Hai ngày Triển Lãm, Thuyết Trình, Hội Thảo “Sự Thật Tết Mậu Thân 68” và văn nghệ tưởng nhớ đã hoàn tất mỹ mãn và đầy xúc động hôm Thứ Bảy 29-3 và Chủ Nhật 30-3-2008 tại Việt Báo Gallery, Westminster.

Chương trình hai ngày tưởng niệm này do Nhật Báo Việt Báo tổ chức với sự hổ trợ của Hội Thân Hữu Thưà Thiên Huế, Hội Hoàng Tộc, Hội Quốc Học Đồng Khánh, Hội Ái Hữu Y Khoa Huế, Little Sài Gòn TV và đài Truyền Hình SBTN.

Tại hội trường Việt Báo Gallery lúc 2 giờ chiều thứ bảy ngày 29 tháng 3 năm 2008, hơn 500 Quan Khách, đại diện các cơ quan Truyền Thông, Truyền Hình, Báo Chí, nhiều vị dân cử, đại diện các Hội Đoàn, Đoàn Thể, qúi vị cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, các Cộng Đồng và đồng hương đã tới tham dự buổi triển lãm và hội thảo về các trận đánhhào hùng của Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa và những thảm sát đau thương do quân Cộng Sản VN gây ra hồi Tết Mậu Thân năm 1968 tại Huế.

Mặc dù buổi trưa nóng bức nhưng số người tham dự đã có mặt từ lúc 1 giờ, vì hội trường giới hạn chổ ngồi nên đồng hương tham gia đã đứng chật các lối đi kể cả khu vực parking phía trước, một số đồng hương phải ra về vì không có chổ đậu xe.

Về phía dân cử nhận thấy có: Chánh Án Nguyễn Trọng Nho, Dân Biểu Trần Thái Văn, Giám Sát Viên Janet Nguyễn, Luật Sư Nguyễn Quang Trung Phó Chủ Tịch Học Khu Garden Grove, Nghị Viên Dina Nguyễn Thành Phố Garden Grove, Nghị Viên Andy Quách, Nghị Viên Tạ Đức Trí Thành Phố Westminster. Trước khi khai mạc đồng hương đã xem lại những đoạn phim về Tết Mậu Thân cũng như tiếp xúc và tâm tình với nhà văn Nhã Ca tác giả “Giải Khăn Sô cho Huế”. Tiếp theo phần nghi thức chào Quốc Kỳ, phút Mặc Niệm và tưởng niệm các nạn nhân Tết Mậu Thân. Giới thiệu chương trình phần đầu do Nhà Văn Phan Nhật Nam và Cô Diệu Quyên Đài SBTN.

Mở đầu chương trình là bản nhạc Một Chiếc Cầu Đã Gãy, nhạc và lời của Cố Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng, do đoàn văn nghệ Dân Tộc Lạc Hồng trình diễn dưới sự điều khiển của Giáo Sư Nguyễn Văn Châu. Sau đó nữ tài tử Kiều Chinh, Đại Diện Việt Báo, lên ngỏ lời cảm ơn Qúi vị Quan Khách cũng như đồng hương đã dành thời gian đến tham dự ngày lễ tưởng niệm, sự hiện diện rất đông hôm nay cũng đã nói lên được sự quan tâm và tưởng nhớ của chúng ta đối với những người không may mắn bị Cộng Sản sát hại trong tết Mậu Thân. Dân Biểu Trần Thái Văn đại diện nhóm dân cử đã lên phát biểu cảm tưởng về biến cố Mậu Thân. Ông nói thế hệ của Ông chỉ biết nghe kể lại những dã man của Cộng Sãn giết hại đồng bào khi chiếm Thành Phố Huế. Ông nói những người trẻ hôm nay Ông ước mong chúng ta phải có một đài Tưởng Niệm, những sử sách ghi lại để con cháu mai sau biết được những gì mà Cộng Sãn đã làm trong trận Tết Mậu Thân.

Tiếp theo Bác Sĩ Tôn Thất Sang, đại diện cho các Hội Đoàn hổ trợ đã lên nhắc lại những thảm cảnh đau thương mà Ông đã chứng kiến tận mắt khi Cộng Sản sát hại qúi vị Giáo Sư người Đức những Bác Sĩ làm việc nhân đạo cũng bị bắt đi và sát hại một cách dã man đã làm chấn động lương tri thế giới, khi nhắc đến qúi vị Thầy, Qúi vị Giáo Sư bị thảm sát. Bác Sĩ Sang nghẹn ngào không nói được, hình ảnh đó cho chúng ta thấy đã 40 năm trôi qua mà mỗi lần kể lại ai cũng ngậm ngùi rơi lệ về những hành động dã man của Cộng Sản.

Tiếp theo là phần thuyết trình và hội thảo do Bình luận gia Nguyễn Xuân Nghĩa. Mở đầu Nhà văn Nhã Ca giới thiệu dự án “ Sự Thật Mậu Thân 68”. Nhà văn Nhã Ca đã cảm ơn tất cả qúi vị đã tham dự buổi tưởng niệm, cảm ơn sự hổ trợ của Hội Thân Hữu Thừa Thiên, Hội Hoàng Tộc, Hội Quốc Học Đồng Khánh, Hội Ái Hữu Y Khoa Huế, cảm ơn sự tiếp sức của các cơ sở truyền thông thân hữu: Little Sài Gòn TV, Đài Truyền Hình SBTN, Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Lạc Hồng, qúi Anh Chị văn nghệ sĩ đóng góp cho chương trình 2 ngày tưởng niệm, cảm ơn các thân hữu đã thầm lặng góp công và cảm ơn tất cả qúi vị đã vì những oan khiên của Tết Mậu Thân mà bỏ công tới dự ngày hôm nay. Sau đó bà đã kể lại những nạn nhân đầu tiên bị Cộng Sản sát hại đó là 5 thường dân bị trói bắt đứng quay lưng vào tường thành rồi dùng AK bắn từng người gục chết... Bà kể những cái chết bị chôn sống của những người bạn bà... và hàng ngàn người đã bị chôn như thế và bà nói tiếp họ còn bị chôn lần thứ hai, bằng sự im lặng đồng lõa của truyền thông Hoa Kỳ. Chỉ vì: Tội ác của Cộng Sản họ không muốn khui ra. Chiến thắng lớn lao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh, họ cố ý dập xóa, dân Mỹ bị che mắt. Chính quyền Mỹ mỏi mệt, kết quả là kẻ ác không đáng thắng đã thắng. . . . .Bà tiếp lời rằng, Bốn mươi năm. Ba lần chôn sống. Chừng đó đủ rồi. Đã đến lúc phải làm sáng tỏ toàn bộ “ Sự thật Tết Mậu Thân” không để lịch sử tiếp tục bị đánh tráo. Không để tương lai tiếp tục bị phỉnh gạt, không để con em chúng ta phải học, phải đọc những điều gian dối về cha anh của chúng. Đó là những nhắc nhở, những thúc dục của cả người chết lẫn người sống. Bà còn kể nhiều về những hình ảnh những bi thương mà dân Huế từ sau năm 1975 đến nay không còn được phép có chung một ngày tưởng niệm nạn nhân tết Mậu Thân... Cuối cùng Bà cũng trình bày một dự án sẽ thực hiện suốt năm 2008. Mục tiêu của dự án là sưu tầm tài liệu. hình ảnh liên quan tới trận chiến Tết Mậu Thân, kêu gọi những nhân chứng sống kể ra từng chi tiết sự việc, ghi chép bằng âm thanh, hình ảnh, chữ nghĩa, thành lập một thư khố về vụ thảm sát Mậu Thân. Sau đó tổng hợp, nghiên cứu mọi yếu tố lịch sử, pháp lý thực hiện công trình phiên dịch, biên tập và ấn hành một hồ sơ lịch sử về tội ác Cộng Sản mang tên “Sự Thật Tết Mậu Thân 68.” Chính vì những mục đích trên nên sách mới Giải Khăn Sô cho Huế đã được ấn hành để trình diện qúi vị. Toàn bộ số tác quyền thu từ sách nầy sẽ được góp vào quĩ khởi đầu cho dự án kể trên...

Tiếp theo phần hội thảo, Đại Tá Hà Mai Việt nói về cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 68, Ông cũng lược qua về những diễn tiến các trận đánh Tết Mậu Thân. Ông cũng so sánh về những tổn thất của Cộng Sãn so với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để thấy chiến thắng của chúng ta. Ông cũng nhắc lại một số chiến sĩ anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong các trận chiến Tết Mậu Thân.v.v...

Tiếp theo Trung Tá Trần Ngọc Huế đã nói qua về những trận chiến tại Huế khi đó Ông là Đại Đội trưởng Đại Đội Hắc Báo Ông lược qua về sự thật điểm và diện khi Cộng Sản âm mưu xâm chiếm Thành Phố Huế. Ông nhắc lại diễn tiến xãy ra trong đêm giao thừa v.v… Kế đến Đại Sứ Bùi Diễm nói về ảnh hưởng của trận Mậu Thân 68 vào chính trường Hoa Kỳ mở đầu Ông nói Ông rất hân hạnh và muốn đóng góp vào cuốn (Bạch Thư ) Mậu Thân. Ông nói Mậu thân là một khúc quanh trong lịch sử Việt Nam, với những thất bại của Cộng Sản chúng ta đã thấy rỏ thế mà chúng vẫn nói phét chúng đã tuyên truyền làm ảnh hưởng đến báo chí Hoa Kỳ, chính trường Hoa Kỳ, xách động biểu tình chống chiến tranh, gây ảnh hưởng đến các Thượng Nghị Sĩ, Dân Biểu Hoa Kỳ để chấm dứt chiến tranh.. . . Ông cũng nhấn mạnh đó là một bài học lịch sử vì thế chúng ta luôn luôn thận trọng. đối với chính quyền Hoa Kỳ đó là một bài học. Chúng ta nên trông vào chính chúng ta, chúng ta không là tiền đồn cho một thế lực nào cả mà khối dân tộc của chúng ta là chính. Tất cả sự việc xãy ra xem đó là một kinh nghiệm để cho các thế hệ mai sau thận trọng hơn.

Cuối cùng Bình luận gia Nguyễn Xuân Nghĩa cũng nhắc lại những dã man Cộng Sản khi đối với những nạn nhân đã chết năm 1968 mà không được đốt một nén nhang, con em chúng ta không hiểu gì cả, chỉ vì chúng tham khảo những tài liệu của Hoa Kỳ và Cộng Sản chính vì vậy nên chúng ta phải gợi lại những chuyện cũ, chúng ta cố gắng tổ chức khắp mọi nơi cùng phát động chương trình tìm hiểu “Sự Thật Mậu Thân 68” để thế hệ mai sau không bị nhầm lẫn... Sau cùng Ông cũng đã đặt nhiều câu hỏi cho 3 diễn giả về những vấn đề liên quan đến trận chiến Mậu Thân và cũng được giải đáp một số dữ kiện mà nhiều người chưa hiểu trong trận chiến bi thảm nầy. Buổi thuyết trình, Hội thảo diễn ra trong bầu không khí vô cùng cảm động, mọi người đều im lặng theo dõi từ đầu cho đến khi kết thúc buổi thuyết trình hội thảo.

Về Ba Vị Diễn Giả trong ngày 40 Năm Tưởng Niệm Tết Mậu Thân

Đại tá Hà Mai Việt

Đại tá Hà Mai Việt là con trai của nhà giáo Hà Mai Anh, người đã đóng góp rất nhiều cho nền giáo dục của thanh thiếu niên Việt Nam trong nhiều thế hệ. Về binh nghiệp, ông được ân thưởng trước sau 38 huy chương đủ loại, kể cả hai huy chương của Hoa Kỳ và Đệ tứ đằng Bảo quốc Huân chương của Việt Nam Cộng Hoà.

Nhập ngũ năm 1954, tốt nghiệp khoá 5 của trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, rồi Thủ khoa khóa 1 Thiết giáp, Đại tá Hà Mai Việt từng đảm nhiệm các chức vụ: Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 12 Kỵ binh, rồi Tư lệnh phó Lữ đoàn 1 Kỵ binh,Tư lệnh Chiến trường Nam Bình Định rồi Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Quảng Trị, Tham mưu phó Hành quân và Tiếp vận của Quân đoàn 1 tại Vùng 1 Chiến thuật.

Hiện cư ngụ tại Houston, Texas, ôngÔng đã cùng biên soạn với Tướng Hoàng Văn Lạc cuốn "Nam Việt Nam - 1954-1975 - Những sự thật chưa hề được nhắc tới", xuất bản năm 1990; và là tác giả cuốn "Thép và Máu - Thiết giáp trong Chiến tranh Việt Nam", xuất bản năm 2005. Trong các tác phẩm bằng Anh ngữ, ông cũng là đồng tác giả của cuốn "Blind Design - Why America Lost the Vietnam War" xuất bản năm 1996.

Trung tá Trần Ngọc Huế

Sinh trưởng tại Huế trong một gia đình là hậu duệ của vị anh hùng Nguyễn Tri Phương, Trung tá Trần Ngọc Huế đã tốt nghiệp khoá 19 Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt và khoá huấn luyện về tác chiến trong sình lầy tổ chức tại Mã Lai Á. Ông từng là Đại đội trưởng của Đại đội Hắc Báo, đơn vị lừng danh của Sư đoàn 1, và góp phần không nhỏ khi bảo vệ bộ Tư lệnh Sư đoàn trong trận Mậu Thân 68 tại Huế và đã hai lần được đặc cách vinh thăng ngoài mặt trận.

Năm 1971, khi vừa được vinh thăng Trung tá, ông dự trận Lam Sơn 719 và bị thương nặng tại Hạ Lào, đòi ở lại chiến trường để khỏi là gánh nặng cho các chiến hữu, bị quân đội Bắc Việt bắt làm tù binh trên đất Lào và trải qua 13 năm tù cộng sản.

Trung tá Trần Ngọc Huế được sự cảm mến và kính trọng của các sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ bên Quân lực Việt Nam. Bằng mọi cách, họ tìm kiếm và cuối cùng vận động để ông được qua Mỹ trong chương trình H.O. vào cuối năm 1991. Đầu năm 1992, ông được Tướng Carl Mundy, Tư lệnh Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ trao tặng huân chương Bronze Star và Silver Star về những chiến công của ông trong trận Mậu Thân tại Huế.

Cuộc đời ông đã gây kinh ngạc và khâm phục cho một người Mỹ trưởng thành sau chiến tranh Việt Nam:

Tác giả Andrew Wiest, một giáo sư sử học trong sách"Vietnam's Forgotten Army - Heroism and Betrayal in the Army of the Republic of Vietnam" vừa xuất bản đầu năm 2008, mô là ông là một anh hùng.

Đại sứ Bùi Diễm

Đại sứ VNCH Bùi Diễm và Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson sau Tết Mậu Thân 1968.

Đại sứ Bùi Diễm là người đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp ngay từ thuở thanh xuân, và đấu tranh trong một chính đảng quốc gia giữa Thực dân Pháp và Cộng sản Việt Nam.

Khi Quốc gia Việt Nam thành hình, ông Bùi Diễm được Bộ trưởng Quốc phòng Phan Huy Quát đề cử qua Paris cùng Đại tá Lê Văn Kim thương thuyết - và thực sự là đấu tranh - để Pháp sớm trao trả độc lập cho Quân đội Việt Nam.

Là Bộ trưởng Phủ Thủ tướng trong nội các Phan Huy Quát, ông cũng là người chứng kiến việc Hoa Kỳ bất ngờ đổ quân vào Đà Nẵng, tháng Ba năm 1965 để Mỹ hoá cuộc chiến.

Là Đại sứ Việt Nam Cộng Hoà từ năm 1967, ông trực tiếp gặp Tổng thống Lyndon B. Johnson để trình bày rằng Việt Nam không thua trong vụ Mậu Thân 68. Tại đây, ông chứng kiến sự suy sụp tinh thần của lãnh đạo Hoa Kỳ và ảnh hưởng bất lợi của truyền thông Mỹ.

Là người sáng lập tờ báo Anh ngữ đầu tiên của Việt Nam, tờ Saigon Post, Đại sứ Bùi Diễm cũng có nhiều hiểu biết về truyền thông và báo chí Hoa Kỳ. Khi Hoà đàm Paris khởi sự, ông là Cố vấn của Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà và chứng kiến những cố gắng tuyệt vọng của phía Việt Nam khi Hoa Kỳ nhất định tháo chạy bằng bản Hiệp định Paris.

Ngày nay, ông Bùi Diễm là một học giả tại tiểu bang Maryland, đã biên soạn cuốn "In the Jaws of History" cùng tác già David Chanoff xuất bản năm 1987, và cuốn Hồi ký Chính trị "Trong Gọng Kềm Lịch Sử, xuất bản năm 2000. Ông tiếp tục gánh vác trách nhiệm với Đại Việt Cách Mạng Đảng mà ông là Chủ tịch, kể từ năm 2007.

NhaKyThuat said...

Triển Lãm, Hội Thảo, Văn Nghệ “Sự Thật Tết Mậu Thân 1968” - Diễn Giả: Đại Tá Hà Mai Việt, Trung Tá Trần Ngọc Huế, Đại Sứ Bùi Diễm Việt Báo Thứ Hai, 3/31/2008, 12:02:00 AM

Ba diễn giả của hội thảo về trận Mậu Thân, từ trái: Đại tá Hà Mai Việt, Đại sứ Bùi Diễm, Trung tá Trần Ngọc Huế hôm Thứ Bảy 29-3-2008 tại Việt Báo Gallery


WESTMINSTER (Cổ Ngưu) -- Hai ngày Triển Lãm, Thuyết Trình, Hội Thảo “Sự Thật Tết Mậu Thân 68” và văn nghệ tưởng nhớ đã hoàn tất mỹ mãn và đầy xúc động hôm Thứ Bảy 29-3 và Chủ Nhật 30-3-2008 tại Việt Báo Gallery, Westminster.

Chương trình hai ngày tưởng niệm này do Nhật Báo Việt Báo tổ chức với sự hổ trợ của Hội Thân Hữu Thưà Thiên Huế, Hội Hoàng Tộc, Hội Quốc Học Đồng Khánh, Hội Ái Hữu Y Khoa Huế, Little Sài Gòn TV và đài Truyền Hình SBTN.

Tại hội trường Việt Báo Gallery lúc 2 giờ chiều thứ bảy ngày 29 tháng 3 năm 2008, hơn 500 Quan Khách, đại diện các cơ quan Truyền Thông, Truyền Hình, Báo Chí, nhiều vị dân cử, đại diện các Hội Đoàn, Đoàn Thể, qúi vị cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, các Cộng Đồng và đồng hương đã tới tham dự buổi triển lãm và hội thảo về các trận đánhhào hùng của Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa và những thảm sát đau thương do quân Cộng Sản VN gây ra hồi Tết Mậu Thân năm 1968 tại Huế.

Mặc dù buổi trưa nóng bức nhưng số người tham dự đã có mặt từ lúc 1 giờ, vì hội trường giới hạn chổ ngồi nên đồng hương tham gia đã đứng chật các lối đi kể cả khu vực parking phía trước, một số đồng hương phải ra về vì không có chổ đậu xe.

Về phía dân cử nhận thấy có: Chánh Án Nguyễn Trọng Nho, Dân Biểu Trần Thái Văn, Giám Sát Viên Janet Nguyễn, Luật Sư Nguyễn Quang Trung Phó Chủ Tịch Học Khu Garden Grove, Nghị Viên Dina Nguyễn Thành Phố Garden Grove, Nghị Viên Andy Quách, Nghị Viên Tạ Đức Trí Thành Phố Westminster. Trước khi khai mạc đồng hương đã xem lại những đoạn phim về Tết Mậu Thân cũng như tiếp xúc và tâm tình với nhà văn Nhã Ca tác giả “Giải Khăn Sô cho Huế”. Tiếp theo phần nghi thức chào Quốc Kỳ, phút Mặc Niệm và tưởng niệm các nạn nhân Tết Mậu Thân. Giới thiệu chương trình phần đầu do Nhà Văn Phan Nhật Nam và Cô Diệu Quyên Đài SBTN.

Mở đầu chương trình là bản nhạc Một Chiếc Cầu Đã Gãy, nhạc và lời của Cố Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng, do đoàn văn nghệ Dân Tộc Lạc Hồng trình diễn dưới sự điều khiển của Giáo Sư Nguyễn Văn Châu. Sau đó nữ tài tử Kiều Chinh, Đại Diện Việt Báo, lên ngỏ lời cảm ơn Qúi vị Quan Khách cũng như đồng hương đã dành thời gian đến tham dự ngày lễ tưởng niệm, sự hiện diện rất đông hôm nay cũng đã nói lên được sự quan tâm và tưởng nhớ của chúng ta đối với những người không may mắn bị Cộng Sản sát hại trong tết Mậu Thân. Dân Biểu Trần Thái Văn đại diện nhóm dân cử đã lên phát biểu cảm tưởng về biến cố Mậu Thân. Ông nói thế hệ của Ông chỉ biết nghe kể lại những dã man của Cộng Sãn giết hại đồng bào khi chiếm Thành Phố Huế. Ông nói những người trẻ hôm nay Ông ước mong chúng ta phải có một đài Tưởng Niệm, những sử sách ghi lại để con cháu mai sau biết được những gì mà Cộng Sãn đã làm trong trận Tết Mậu Thân.

Tiếp theo Bác Sĩ Tôn Thất Sang, đại diện cho các Hội Đoàn hổ trợ đã lên nhắc lại những thảm cảnh đau thương mà Ông đã chứng kiến tận mắt khi Cộng Sản sát hại qúi vị Giáo Sư người Đức những Bác Sĩ làm việc nhân đạo cũng bị bắt đi và sát hại một cách dã man đã làm chấn động lương tri thế giới, khi nhắc đến qúi vị Thầy, Qúi vị Giáo Sư bị thảm sát. Bác Sĩ Sang nghẹn ngào không nói được, hình ảnh đó cho chúng ta thấy đã 40 năm trôi qua mà mỗi lần kể lại ai cũng ngậm ngùi rơi lệ về những hành động dã man của Cộng Sản.

Tiếp theo là phần thuyết trình và hội thảo do Bình luận gia Nguyễn Xuân Nghĩa. Mở đầu Nhà văn Nhã Ca giới thiệu dự án “ Sự Thật Mậu Thân 68”. Nhà văn Nhã Ca đã cảm ơn tất cả qúi vị đã tham dự buổi tưởng niệm, cảm ơn sự hổ trợ của Hội Thân Hữu Thừa Thiên, Hội Hoàng Tộc, Hội Quốc Học Đồng Khánh, Hội Ái Hữu Y Khoa Huế, cảm ơn sự tiếp sức của các cơ sở truyền thông thân hữu: Little Sài Gòn TV, Đài Truyền Hình SBTN, Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Lạc Hồng, qúi Anh Chị văn nghệ sĩ đóng góp cho chương trình 2 ngày tưởng niệm, cảm ơn các thân hữu đã thầm lặng góp công và cảm ơn tất cả qúi vị đã vì những oan khiên của Tết Mậu Thân mà bỏ công tới dự ngày hôm nay. Sau đó bà đã kể lại những nạn nhân đầu tiên bị Cộng Sản sát hại đó là 5 thường dân bị trói bắt đứng quay lưng vào tường thành rồi dùng AK bắn từng người gục chết... Bà kể những cái chết bị chôn sống của những người bạn bà... và hàng ngàn người đã bị chôn như thế và bà nói tiếp họ còn bị chôn lần thứ hai, bằng sự im lặng đồng lõa của truyền thông Hoa Kỳ. Chỉ vì: Tội ác của Cộng Sản họ không muốn khui ra. Chiến thắng lớn lao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh, họ cố ý dập xóa, dân Mỹ bị che mắt. Chính quyền Mỹ mỏi mệt, kết quả là kẻ ác không đáng thắng đã thắng. . . . .Bà tiếp lời rằng, Bốn mươi năm. Ba lần chôn sống. Chừng đó đủ rồi. Đã đến lúc phải làm sáng tỏ toàn bộ “ Sự thật Tết Mậu Thân” không để lịch sử tiếp tục bị đánh tráo. Không để tương lai tiếp tục bị phỉnh gạt, không để con em chúng ta phải học, phải đọc những điều gian dối về cha anh của chúng. Đó là những nhắc nhở, những thúc dục của cả người chết lẫn người sống. Bà còn kể nhiều về những hình ảnh những bi thương mà dân Huế từ sau năm 1975 đến nay không còn được phép có chung một ngày tưởng niệm nạn nhân tết Mậu Thân... Cuối cùng Bà cũng trình bày một dự án sẽ thực hiện suốt năm 2008. Mục tiêu của dự án là sưu tầm tài liệu. hình ảnh liên quan tới trận chiến Tết Mậu Thân, kêu gọi những nhân chứng sống kể ra từng chi tiết sự việc, ghi chép bằng âm thanh, hình ảnh, chữ nghĩa, thành lập một thư khố về vụ thảm sát Mậu Thân. Sau đó tổng hợp, nghiên cứu mọi yếu tố lịch sử, pháp lý thực hiện công trình phiên dịch, biên tập và ấn hành một hồ sơ lịch sử về tội ác Cộng Sản mang tên “Sự Thật Tết Mậu Thân 68.” Chính vì những mục đích trên nên sách mới Giải Khăn Sô cho Huế đã được ấn hành để trình diện qúi vị. Toàn bộ số tác quyền thu từ sách nầy sẽ được góp vào quĩ khởi đầu cho dự án kể trên...

Tiếp theo phần hội thảo, Đại Tá Hà Mai Việt nói về cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 68, Ông cũng lược qua về những diễn tiến các trận đánh Tết Mậu Thân. Ông cũng so sánh về những tổn thất của Cộng Sãn so với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để thấy chiến thắng của chúng ta. Ông cũng nhắc lại một số chiến sĩ anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong các trận chiến Tết Mậu Thân.v.v...

Tiếp theo Trung Tá Trần Ngọc Huế đã nói qua về những trận chiến tại Huế khi đó Ông là Đại Đội trưởng Đại Đội Hắc Báo Ông lược qua về sự thật điểm và diện khi Cộng Sản âm mưu xâm chiếm Thành Phố Huế. Ông nhắc lại diễn tiến xãy ra trong đêm giao thừa v.v… Kế đến Đại Sứ Bùi Diễm nói về ảnh hưởng của trận Mậu Thân 68 vào chính trường Hoa Kỳ mở đầu Ông nói Ông rất hân hạnh và muốn đóng góp vào cuốn (Bạch Thư ) Mậu Thân. Ông nói Mậu thân là một khúc quanh trong lịch sử Việt Nam, với những thất bại của Cộng Sản chúng ta đã thấy rỏ thế mà chúng vẫn nói phét chúng đã tuyên truyền làm ảnh hưởng đến báo chí Hoa Kỳ, chính trường Hoa Kỳ, xách động biểu tình chống chiến tranh, gây ảnh hưởng đến các Thượng Nghị Sĩ, Dân Biểu Hoa Kỳ để chấm dứt chiến tranh.. . . Ông cũng nhấn mạnh đó là một bài học lịch sử vì thế chúng ta luôn luôn thận trọng. đối với chính quyền Hoa Kỳ đó là một bài học. Chúng ta nên trông vào chính chúng ta, chúng ta không là tiền đồn cho một thế lực nào cả mà khối dân tộc của chúng ta là chính. Tất cả sự việc xãy ra xem đó là một kinh nghiệm để cho các thế hệ mai sau thận trọng hơn.

Cuối cùng Bình luận gia Nguyễn Xuân Nghĩa cũng nhắc lại những dã man Cộng Sản khi đối với những nạn nhân đã chết năm 1968 mà không được đốt một nén nhang, con em chúng ta không hiểu gì cả, chỉ vì chúng tham khảo những tài liệu của Hoa Kỳ và Cộng Sản chính vì vậy nên chúng ta phải gợi lại những chuyện cũ, chúng ta cố gắng tổ chức khắp mọi nơi cùng phát động chương trình tìm hiểu “Sự Thật Mậu Thân 68” để thế hệ mai sau không bị nhầm lẫn... Sau cùng Ông cũng đã đặt nhiều câu hỏi cho 3 diễn giả về những vấn đề liên quan đến trận chiến Mậu Thân và cũng được giải đáp một số dữ kiện mà nhiều người chưa hiểu trong trận chiến bi thảm nầy. Buổi thuyết trình, Hội thảo diễn ra trong bầu không khí vô cùng cảm động, mọi người đều im lặng theo dõi từ đầu cho đến khi kết thúc buổi thuyết trình hội thảo.

Về Ba Vị Diễn Giả trong ngày 40 Năm Tưởng Niệm Tết Mậu Thân

Đại tá Hà Mai Việt

Đại tá Hà Mai Việt là con trai của nhà giáo Hà Mai Anh, người đã đóng góp rất nhiều cho nền giáo dục của thanh thiếu niên Việt Nam trong nhiều thế hệ. Về binh nghiệp, ông được ân thưởng trước sau 38 huy chương đủ loại, kể cả hai huy chương của Hoa Kỳ và Đệ tứ đằng Bảo quốc Huân chương của Việt Nam Cộng Hoà.

Nhập ngũ năm 1954, tốt nghiệp khoá 5 của trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, rồi Thủ khoa khóa 1 Thiết giáp, Đại tá Hà Mai Việt từng đảm nhiệm các chức vụ: Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 12 Kỵ binh, rồi Tư lệnh phó Lữ đoàn 1 Kỵ binh,Tư lệnh Chiến trường Nam Bình Định rồi Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Quảng Trị, Tham mưu phó Hành quân và Tiếp vận của Quân đoàn 1 tại Vùng 1 Chiến thuật.

Hiện cư ngụ tại Houston, Texas, ôngÔng đã cùng biên soạn với Tướng Hoàng Văn Lạc cuốn "Nam Việt Nam - 1954-1975 - Những sự thật chưa hề được nhắc tới", xuất bản năm 1990; và là tác giả cuốn "Thép và Máu - Thiết giáp trong Chiến tranh Việt Nam", xuất bản năm 2005. Trong các tác phẩm bằng Anh ngữ, ông cũng là đồng tác giả của cuốn "Blind Design - Why America Lost the Vietnam War" xuất bản năm 1996.

Trung tá Trần Ngọc Huế

Sinh trưởng tại Huế trong một gia đình là hậu duệ của vị anh hùng Nguyễn Tri Phương, Trung tá Trần Ngọc Huế đã tốt nghiệp khoá 19 Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt và khoá huấn luyện về tác chiến trong sình lầy tổ chức tại Mã Lai Á. Ông từng là Đại đội trưởng của Đại đội Hắc Báo, đơn vị lừng danh của Sư đoàn 1, và góp phần không nhỏ khi bảo vệ bộ Tư lệnh Sư đoàn trong trận Mậu Thân 68 tại Huế và đã hai lần được đặc cách vinh thăng ngoài mặt trận.

Năm 1971, khi vừa được vinh thăng Trung tá, ông dự trận Lam Sơn 719 và bị thương nặng tại Hạ Lào, đòi ở lại chiến trường để khỏi là gánh nặng cho các chiến hữu, bị quân đội Bắc Việt bắt làm tù binh trên đất Lào và trải qua 13 năm tù cộng sản.

Trung tá Trần Ngọc Huế được sự cảm mến và kính trọng của các sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ bên Quân lực Việt Nam. Bằng mọi cách, họ tìm kiếm và cuối cùng vận động để ông được qua Mỹ trong chương trình H.O. vào cuối năm 1991. Đầu năm 1992, ông được Tướng Carl Mundy, Tư lệnh Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ trao tặng huân chương Bronze Star và Silver Star về những chiến công của ông trong trận Mậu Thân tại Huế.

Cuộc đời ông đã gây kinh ngạc và khâm phục cho một người Mỹ trưởng thành sau chiến tranh Việt Nam:

Tác giả Andrew Wiest, một giáo sư sử học trong sách"Vietnam's Forgotten Army - Heroism and Betrayal in the Army of the Republic of Vietnam" vừa xuất bản đầu năm 2008, mô là ông là một anh hùng.

Đại sứ Bùi Diễm

Đại sứ VNCH Bùi Diễm và Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson sau Tết Mậu Thân 1968.

Đại sứ Bùi Diễm là người đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp ngay từ thuở thanh xuân, và đấu tranh trong một chính đảng quốc gia giữa Thực dân Pháp và Cộng sản Việt Nam.

Khi Quốc gia Việt Nam thành hình, ông Bùi Diễm được Bộ trưởng Quốc phòng Phan Huy Quát đề cử qua Paris cùng Đại tá Lê Văn Kim thương thuyết - và thực sự là đấu tranh - để Pháp sớm trao trả độc lập cho Quân đội Việt Nam.

Là Bộ trưởng Phủ Thủ tướng trong nội các Phan Huy Quát, ông cũng là người chứng kiến việc Hoa Kỳ bất ngờ đổ quân vào Đà Nẵng, tháng Ba năm 1965 để Mỹ hoá cuộc chiến.

Là Đại sứ Việt Nam Cộng Hoà từ năm 1967, ông trực tiếp gặp Tổng thống Lyndon B. Johnson để trình bày rằng Việt Nam không thua trong vụ Mậu Thân 68. Tại đây, ông chứng kiến sự suy sụp tinh thần của lãnh đạo Hoa Kỳ và ảnh hưởng bất lợi của truyền thông Mỹ.

Là người sáng lập tờ báo Anh ngữ đầu tiên của Việt Nam, tờ Saigon Post, Đại sứ Bùi Diễm cũng có nhiều hiểu biết về truyền thông và báo chí Hoa Kỳ. Khi Hoà đàm Paris khởi sự, ông là Cố vấn của Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà và chứng kiến những cố gắng tuyệt vọng của phía Việt Nam khi Hoa Kỳ nhất định tháo chạy bằng bản Hiệp định Paris.

Ngày nay, ông Bùi Diễm là một học giả tại tiểu bang Maryland, đã biên soạn cuốn "In the Jaws of History" cùng tác già David Chanoff xuất bản năm 1987, và cuốn Hồi ký Chính trị "Trong Gọng Kềm Lịch Sử, xuất bản năm 2000. Ông tiếp tục gánh vác trách nhiệm với Đại Việt Cách Mạng Đảng mà ông là Chủ tịch, kể từ năm 2007.

NhaKyThuat said...

Westminster (Cổ Ngưu) -- Tại hội trường Việt Báo Gallery lúc 2 giờ chiều thứ bảy ngày 29 tháng 3 năm 2008, hơn 500 Quan Khách, đại diện các cơ quan Truyền Thông, Truyền Hình, Báo Chí, nhiều vị dân cử, đại diện các Hội Đoàn, Đoàn Thể, qúi vị cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, các Cộng Đồng và đồng hương đã tới tham dự buổi triển lãm và hội thảo về các trận đánh hào hùng của Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa và những thảm sát đau thương do quân Cộng Sản VN gây ra hồi Tết Mậu Thân năm 1968 tại Huế.

Mặc dù buổi trưa nóng bức nhưng số người tham dự đã có mặt từ lúc 1 giờ, vì hội trường giới hạn chổ ngồi nên đồng hương tham gia đã đứng chật các lối đi kể cả khu vực parking phía trước, một số đồng hương phải ra về vì không có chổ đậu xe.

Cuộc triển lãm đã trưng bày nhiều hình ảnh, chứng tích về trận thảm sát Mậu Thân. Người dẫn chương trình là bình luận gia Nguyễn Xuân Nghĩa đã giới thiệu mở đầu chương trình hội thảo là nhà văn Nhã Ca, một nhân chứng tại chỗ của Trận Tết Mậu Thân Huế và may mắn là một trong những người sống sót.

Nhà văn Nhã Ca đã giới thiệu dự án “ Sự Thật Mậu Thân 68”, mà bà trình bày là: “...một dự án sẽ liên tục thực hiện suốt năm 2008. Mục tiêu của dự án là sưu tầm tài liệu, hình ảnh liên quan tới trận chiến Tết Mậu Thân, kêu gọi những nhân chứng sống kể ra từng chi tiết sự việc, ghi chép bằng âm thanh, hình ảnh, chữ nghĩa, thành lập một thư khố về vụ thảm sát Mậu Thân. Sau đó là tổng hợp, nghiên cứu mọi yếu tố lịch sử, pháp lý, thực hiện công trình phiên dịch, biên tập và ấn hành một hồ sơ lịch sử về tội ác cộng sản, mang tên "Sự Thật Tết Mậu Thân 68."...”

Đặc biệt của chương trình là ba diễn giả -- Đại Tá Hà Mai Việt, Trung Tá Trần Ngọc Huế, Đại Sứ Bùi Diễm -- đã trình baỳ về ba khía cạnh khác nhau của các trận đánh Mậu Thân.

Vào chiều hôm chủ nhật 30-3-2008, một số người đã tới biểu tình trước tòa soạn Việt Báo để “bày tỏ phản đối” ca sĩ Khánh Ly, người tới góp lời ca trong chương trình văn nghệ Tưởng Niệm Tết Mậu Thân tại Việt Báo.

NhaKyThuat said...

Nguyên Huy/ Người Việt


Suốt trong hai ngày cuối tuần qua, cả ngàn đồng hương người Việt tị nạn cộng sản đang định cư tại Nam California đã đến tham dự buổi “Tưởng Niệm Tết Mậu Thân” do nhật báo Việt Báo cùng một số cơ quan truyền thông Việt ngữ và hội đoàn tổ chức tại phòng hội của nhật báo Việt Báo trên đường Moran thuộc thành phố Westminster.

Cả hai buổi, chiều Thứ Bảy 29 và chiều Chủ Nhật 30 tháng 3, buổi nào cũng xấp xỉ trên 500 người tham dự. Phòng hội đã không còn một chỗ đứng trong khi phía ngoài tòa báo người đến chậm đành phải đứng bên ngoài tạo thành những cuộc hội luận nhỏ từng nhóm dăm ba người mà chủ đề là những cuộc thảm sát của quân đội cộng sản phản bội lệnh hưu chiến mở những cuộc tổng công kích vào các thành phố tỉnh lỵ của Việt Nam Cộng Hòa vào đầu năm 1968.

Có thể nói đây là buổi tổ chức Tưởng Niệm về Mậu Thân 1968 tương đối có quy mô tại hải ngoại, sau 33 năm cộng sản đã chiếm được trọn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Hai buổi tưởng niệm được tổ chức với hai nội dung riêng biệt. Vào chiều hôm Thứ Bảy là cuộc triển lãm những hình ảnh, tài liệu về những cuộc thảm sát tại Huế khi quân cộng sản bất ngờ chiếm được thành phố trong 28 ngày. Nhiều hình ảnh ghê rợn đã được trưng ra trong cuộc triển lãm, trong những thước phim tài liệu được trình chiếu lại. Những “đống xương vô định đã cao bằng đầu” của người dân Huế trong các vụ Việt Cộng thảm sát. Nhiều hình ảnh ghi lại hàng trăm chiếc quan tài sơ sài chứa những xác người dân vô tội mà chính quyền VNCH ở Huế sau đó đã tìm được trong những nấm mồ tập thể vùi lấp hàng ngàn xác người. Những xác người, có nhiều xác sọ bị vỡ, có nhiều xác tay chân còn bị trói, có nhiều xác chứng tỏ đã bị chôn sống... Những hình ảnh khủng khiếp tưởng như vào thời hồng hoang man rợ nhất. Bên cạnh đó là những hình ảnh tang thương của những thân nhân gia đình của nạn nhân, những người chồng, người vợ, những đứa con thơ, những cha mẹ già lang thang thất thểu đi trong vùng “Khe Ðá Mài”, trong vùng quanh trường trung học Gia Hội, trong vùng chùa Theravada, cũng gọi là chùa Tăng Quang Tự, trong vùng tu viện Thiên An, trong vùng cầu An Ninh, trong vùng trường tiểu học An Ninh Hạ, trong vùng chợ Thông, trong vùng lăng Gia Long bên bờ sông Hương, ở làng An Hạ, Thúy Thạnh... để tìm xác thân nhân chồng con mà quân CS và bọn nằm vùng đã giết hại bằng đủ mọi hình thức từ xử bắn, đập chết bằng cuốc cho đến chôn sống.

Cũng trong buổi triển lãm này, một buổi thuyết trình của một số những nhân chứng chính trị và quân sự như cựu Ðại Sứ Bùi Diễm và các cựu Ðại Tá Hà Mai Việt, cựu Trung Tá Trần Ngọc Huế thuyết trình những đề tài về “Sự Thật Tết Mậu Thân 1968”. Sau phần thuyết trình là cuộc hội thảo.

Mở đầu buổi sinh hoạt hội thảo, nhà văn Nhã Ca, tác giả cuốn “Giải Khăn Sô Cho Huế” viết trong thời gian sau Tết Mậu Thân và từng được giải thưởng văn học của chính phủ VNCH, đã ngỏ lời rằng: “Bốn mươi năm trước đúng vào lúc 2 giờ (sáng Mùng Một Tết) cộng sản đã mở cuộc tấn công vào Huế gây ra cảnh chết chóc với bom đạn tơi bời, với những cuộc chôn sống, những nấm mộ tập thể những xác người bị đập chết bằng cuốc cả hàng ngàn người ập đến với người dân Huế. Bao nhiêu bạn tôi đã bị chôn sống khi tuổi xuân còn đầy sức sống. Tội ác ấy, truyền thông Hoa Kỳ và thế giới đã im lặng. Họ cố ý dập xóa đi những tang thương để kết quả là kẻ ác không đáng thắng đã thắng. Cộng sản mới đây đã đánh tráo lịch sử mà tổ chức ra cái gọi là chiến thắng Mậu Thân trên những xác người, trên những chết chóc đau thương của người dân Huế. Chúng ta nhất quyết không để bị lừa gạt, không để lịch sử bị đánh tráo. Chúng ta phải nhắc nhở nhau những đau thương này, phải tổ chức một ngày tưởng niệm hàng năm. Ðây cũng là khởi đầu của một dự án sưu tầm tất cả những tài liệu, hình ảnh, nhân chứng còn sống qua những cuộc phỏng vấn để lưu trữ lại. Dự án sẽ diễn ra trong suốt năm 2008 này để chúng ta sẽ tổng hợp, nghiên cứu trên mọi khía cạnh pháp lý thành một hồ sơ về tội ác của cộng sản đối với dân tộc. Tất cả số tiền bán sách hôm nay sẽ được sung vào quỹ cho dự án này”.

Nhà bình luận Nguyễn Xuân Nghĩa, người điều hợp chương trình “40 năm tưởng niệm Mậu Thân” cũng cho biết: “Lẽ ra hàng năm chúng ta phải có những buổi tưởng niệm như thế này. Ðến nay, những nạn nhân vụ Mậu Thân Huế vẫn chưa được giải oan, trong nước dù có làm vẫn chỉ là lén lút vì tưởng niệm Mậu Thân là một trọng tội đối với chế độ cộng sản. Chúng ta đã có lỗi với người đã khuất và cả với tuổi trẻ, các thế hệ sau. Chúng ta làm việc này là để trả lại công lý và cho thế hệ sau biết mà không nhầm lẫn về cộng sản, về sự thất bại của thế hệ cha ông. Gần đây trong nước có phong trào dùng ‘ngoại cảm’ để đi tìm những người chết trong chiến tranh. Nhưng tuyệt nhiên không thấy ai tìm đến những nạn nhân trong vụ Mậu Thân. Ðó là một sự giả dối lừa bịp. Cuộc hội thảo hôm nay, chúng tôi không đủ khả năng mời được hết những nhân chứng mà chỉ có ba diễn giả đã có kinh nghiệm trực tiếp trong vụ Mậu Thân. Mong đây là khởi đầu cho một công cuộc sưu tầm đóng góp ý kiến, kinh nghiệm, nhân chứng tài liệu để chúng ta có thể bổ túc, tổng hợp thành một tài liệu đầy đủ và chính xác về vụ Mậu Thân”.

Qua ngày hôm sau là một chương trình ca nhạc gồm những sáng tác phẩm của các văn nghệ sĩ đã sáng tác trong cảm xúc trước những thảm cảnh Mậu Thân mà cộng sản đã gây ra cho người dân Việt, đặc biệt là người dân Huế gồm những bài thơ, nhạc, văn của các nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu... do các ca sĩ Khánh Ly, Thanh Lan, Ngọc Minh, Hương Thơ, Phương Hạnh, Trọng Nghĩa đến cộng tác trình bày. Nhưng khi ca sĩ Khánh Ly đến thì đã bị một số khá đông trong hội trường la ó phản đối cho rằng “đã ca tụng Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ đã làm tay sai cho cộng sản Việt Nam, đã làm lợi cho cộng sản trong chiến tranh Việt Nam...”. Cuộc phản đối khá dữ dội khiến ca sĩ Khánh Ly đã phải ra ngoài gặp gỡ với những người phản đối để buổi sinh hoạt kỷ niệm “40 năm Mậu Thân” không bị gián đoạn. Nhưng cho đến khi ca sĩ Khánh Ly trở vào và cùng các ca sĩ khác trình bày một liên khúc trong đó có một phần nhạc của Trịnh Công Sơn thì nhóm người phản đối đã phẫn nộ đến mất trật tự khiến ban tổ chức phải nhờ đến cảnh sát Westminster can thiệp. Và cuộc sinh hoạt “Tưởng Niệm 40 năm Mậu Thân” sau đó cũng chấm dứt. (NH)